Showing posts with label ANTHRANOID. Show all posts
Showing posts with label ANTHRANOID. Show all posts

Tuesday, 7 February 2012

LÔ HỘI-Aloe

LÔ HỘI

Aloe
       
      Vị thuốc lô hội* là dịch chảy ra từ lá rồi cô đặc của một số loài thuộc chi Aloe, họ Lô hội - Asphodelaceae.
            Trong khoảng 180 loài thì chỉ có 4 loài được dùng làm thuốc. Hai loài được chú ý nhiều:
            Aloe ferox Mill. và
            Aloe vera L. (= A. vulgaris Lam. = A. barbadensis Mill.)
Đặc điểm thực vật
            Cây sống nhiều năm, thân có thể hóa gỗ, phần trên mang lá tập trung thành hình hoa thị. Lá hình mũi mác dày, mọng nước, có nhiều chất nhầy nên giữ nhiều nước làm cho cây thích ứng được nơi khô hạn. Khi ra hoa thì trục hoa nhô lên ở giữa bó lá, mang chùm hoa màu vàng hoặc đỏ.
            Aloe ferox Mill. có thân cao từ 2 - 5m, lá mọc thành hoa thị dày, dài 15 -50cm, rộng 10cm ở gốc, có gai ở mặt dưới lá và ở mép lá. Hoa màu đỏ. Loài này là loài chủ yếu có ở nam Phi, cho “lô hội xứ     ”
            Aloe vera L. (= vulgaris Lam.) Có thân ngắn: 30 - 50cm. Lá chỉ có gai ở 2 mép. Hoa màu vàng. Cây nguồn gốc ở bắc Phi, di nhập vào Antille nhưng hiện nay chỉ trồng ở các đảo Aruba và Bonaire cho “lô hội Barbade”.
            Ngoài hai loài trên ra người ta còn dùng A. perryi Baker. cho “lô hội Socotrin”, A. candelabrum Berger. cho “lô hội Natal”.
Đặc điểm vi phẫu
            Lá cắt ngang có những đặc điểm: biểu bì dày, mô mềm phần ngoài gồm các tế bào thành mỏng chứa những hạt diệp lục, phần giữa lá thì mô mềm gồm các tế bào to hơn chứa chất nhầy. Một số tế bào mô mềm có chứa tinh thể calci oxalat hình kim. Ở ranh giới 2 vùng mô mềm thì có 1 vòng các bó libe gỗ. Mỗi bó libe gỗ gồm các mạch gỗ ở giữa và liber ở xung quanh. Phía ngoài liber thì có lớp tế bào to chứa các dẫn chất anthranoid. Các tế bào này chạy dọc bó liber gỗ, vì có vách ngang mỏng nên dễ rách làm cho dịch chứa hoạt chất dễ chảy ra sau khi thu hoạch lá.

Cách chế Lô Hội
            Ở nam Phi  không có cây trồng mà chỉ thu hoạch ở các cây mọc hoang. Người ta thu hoạch các lá mọc bên ngoài từ tháng 8 -10. Việc chế biến được làm tại chỗ và thô sơ. Người ta cắt tận gốc lá, xếp gốc các lá hướng vào một hố có dụng cụ chứa. Dịch trong lá tự chảy ra. Sau 24 giờ người ta chuyển dịch này sang nồi cô để bốc hơi từ 4 -5 giờ thì được. Để nguội sẽ thu được sản phẩm nhựa  màu nâu đen ánh lục, vết bẻ bóng láng, mùi đặc biệt, vị đắng khó chịu, tan trong nước nóng để lại một ít cặn, tan trong cồn, hầu như không tan trong ether, chloroform, benzen, ether dầu. Hằng năm  sản lượng 400 -500 tấn.
            Ở Aruba hiện nay lá lô hội được thu hoạch bằng cơ giới. Trước đây việc chế lô hội cũng làm theo lối thủ công và lô hội thu được có màu nâu đỏ, vết bẻ không nhẵn. Trong phương pháp sản xuất hiện đại, người ta thu hoạch bằng cơ giới và dịch lô hội được bốc hơi bằng máy phun sương. Sản phẩm thu được ở dạng bột có màu nâu đỏ và xẫm lại ngoài ánh sáng. Mùi và vị cũng như lô hội nam Phi. Sản lượng cũng đến hàng trăm tấn.
Thành phần hóa học của nhựa lô hội
            Các dẫn chất anthranoid.  Đây là thành phần có tác dụng của lô hội gồm:
            - Aloe emodin, chất này không có trong dịch lô hội tươi. Trong nhựa lô hội aloe emodin chiếm khoảng 0,05 - 0,50%. Chất này tan trong ether, chlorofom, benzen và kết tinh hình kim vàng cam.
            - Barbaloin, chiếm 15 - 30% là thành phần chính của nhựa lô hội, công thức được nghiên cứu và sửa đổi nhiều lần. Hiện nay công thức được xác định là 1,8-dihydroxy-3-hydroxymethyl-10-b-D-glucopyranosyl anthron. Phần aglycon là anthron tương ứng của aloe emodin, phần đường là glucose nối với carbon số 10 theo dây nối C -glycosid. Nó là bột kết tinh hình kim màu vàng chanh đến vàng xẫm, vị đắng, đen dần ngoài không khí và ánh sáng, tan trong nước, cồn, aceton, ammoniac, hydroxyd kiềm, rất ít tan trong benzen, chloroform, ether. Barbaloin cũng như những loại C - glycosid khác, rất khó bị thủy phân bằng acid. Muốn thủy phân có hiệu suất cao thì phải thủy phân có kèm theo chất oxy hóa (như natri periodat hoặc sắt III chlorid).
            Barbaloin là một hỗn hợp 2 đồng phân S và R (do carbon bất đối ở C-10). Aloin A là đồng phân 10S có năng suất quay cực phải. Aloin B  là đồng phân 10R có năng suất quay cực trái. Bên cạnh hai chất trên còn có aloinosid B (= aloin 1” - O - a - L - rhamnopyranosid), cấu hình ở C -10 chưa xác định. Ngoài ra còn có một số anthranoid khác.

Aloin A  và  Aloin B R=H
Aloinosid B  R = rha
            Trong lô hội còn có aloenin, aloenin B là các dẫn chất phenyl pyran 2 - on; aloesin, aloesol là các dẫn chất benzo pyran 4 - on.
            Định tính
            - Phản ứng Börntraeger. Muốn phản ứng dễ lên thì cần thủy phân các anthraglycosid bằng HCl 4N có thêm FeCl3. Sau đó đem lắc dịch thủy phân với benzen rồi thêm ammoniac loãng, lớp kiềm sẽ có màu đỏ tím.
            - Phản ứng với natri borat (phản ứng Schouteten): 0,50g lô hội hòa trong 100ml nước nóng, làm lạnh dưới vòi nước, lắc với 3-4g bột talc rồi lọc (dung dịch a). Lấy 10ml dịch lọc thêm 0,20g natri borat và đun đến tan. Lấy một ít dung dịch này cho vào ống nghiệm rồi pha loãng gấp nhiều lần bằng nước sẽ thấy có huỳnh quang xanh. Nếu soi dưới ánh đèn tử ngoại thì càng rõ. Đây là phản ứng rất nhạy, đặc trưng cho các dẫn chất anthranoid ở dạng khử.
            - Các phản ứng để phân biệt lô hội xứ     và lô hội Barbade:
              Phản ứng Klunge: Lấy 10ml dung dịch lô hội 1p1000 trong nước, thêm 1ml dung dịch đồng sulfat 5%. Thêm 1g natri chlorid và 10ml cồn ethylic sẽ thấy màu đỏ kém bền chuyển sang vàng nếu là lô hội xứ    , màu đỏ mận bền nếu là lô hội Barbade.
              Dược điển Pháp (1972) thực hiện phản ứng phân biệt 2 loại lô hội một cách đơn giản hơn bằng cách thêm vào 10ml dung dịch a 1ml dung dịch acid periodic 1%, chỉ có lô hội Barbade có màu đỏ bền trong nhiều giờ còn lô hội xứ     thì màu hồng và mất sau 1 giờ. Dung dịch periodat này cũng có thể dùng để phun trên bản sắc ký để phân biệt lô hội Barbade với các lô hội khác.
            Sắc ký : Hòa 1g  lô hội trong 10ml methanol lắc và đun nhẹ. Dùng dung dịch này để chấm sắc ký.
            Trên sắc ký giấy theo chiều đi lên và thực hiện với hệ butanol - acid acetic - nước (4 :1 :5) thì aloin có vết màu vàng, Rf khoảng 0,70, dưới ánh đèn tử ngoại vết có màu đỏ gạch và sau khi phun dung dịch natri borat trong nước sẽ trở thành huỳnh quang  vàng xanh. Nếu hiện màu bằng phun dung dịch cồn KOH thấy vết của aloe emodin có Rf khoảng 0,90. Chất nhựa cho 1 vết chính khoảng 0,85 có màu vàng nhạt ở ánh sáng thường  và huỳnh quang xanh ở dưới ánh đèn tử ngoại. Sắc ký lớp mỏng dùng chất hấp phụ là silicagel G. Khai triển với hệ dung môi ethylacetat - methanol - nước (100 :16,5 :13,5). Sau khi khai triển, để khô ở 20° rồi phun dung dịch KOH 10% trong cồn, vết aloin có màu vàng với Rf 0,45 - 0,52. Soi dưới ánh đèn tử ngoại vết đó có huỳnh quang vàng.
            Đánh giá chất lượng lô hội : Nếu lô hội tốt sẽ hòa tan gần như hoàn toàn trong dung dịch ammoniac loãng (ammoniac dược dụng pha loãng với 9 thể tích nước) hoặc trong cồn 60°.
            Định lượng Barbaloin.
            1. Tách bằng sắc ký trên giấy và định lượng bằng quang phổ kế hoặc đo trực tiếp vết trên sắc phổ bằng mật độ kế. Người ta tiến hành sắc ký giấy dung dịch lô hội (hòa tan trong cồn 60°) và đồng thời dung dịch barbaloin tinh khiết với lượng tăng dần. Sau khi khai triển, làm khô, xác định vị trí của  các vết barbaloin bằng đèn tử ngoại, cắt phần có barbaloin và đẩy ra bằng cồn 60°. Mật độ quang của các dung dịch được đo bằng quang phổ kế ở 390nm. Có thể đánh giá so sánh mật độ quang vết barbaloin của mẫu kiểm nghiệm với các vết barbaloin chuẩn bằng mật độ kế.
            2. Chuyển barbaloin thành aloe emodin và định lượng bằng phương pháp so màu: lô hội được thủy phân kèm theo oxy hóa bằng HCl 4N có mặt 4% Sắt III chlorid, barbaloin chuyển thành aloe - emodin. Dung dịch sau khi thủy phân được chiết bằng tetrachlorid carbon rồi lớp dung môi hữu cơ này lại được chiết lại bằng dung dịch NaOH N, sau đó đo màu ở bước sóng 500nm.
Tác dụng và công dụng
            Nhựa lô hội với liều nhỏ: 0,02 - 0,06g là thuốc bổ giúp tiêu hóa vì kích thích nhẹ niêm mạc ruột, tác dụng thông mật. Liều trung bình: 0,10g có tác dụng nhuận. Liều 0,20 - 0,50g có tác dụng tẩy xổ. Vì tác dụng chậm nên dùng sau bữa ăn chiều để có tác dụng vào sớm hôm sau. Có tác dụng phụ: gây sung huyết ở ruột già và co bóp tử cung nên người bị trĩ và phụ nữ có thai thì không được dùng. Liều cao có thể gây nguy hiểm.
            Ở Liên xô cũ có dùng nước ép lá lô hội để rửa vết thương có mủ, một số bệnh ngoài da. Dịch ép lá phối hợp với dầu thầu dầu và tinh dầu bạch đàn làm thành nhủ dịch để bôi ngoài da khi da bị tổn thương như bỏng do bức xạ. Ở Liên xô cũ còn dùng lá non để ở tối và lạnh để chế philatốp. Dịch lá tươi lô hội có tính kháng khuẩn lao invitro.
            Trong mỹ phẩm cao lá lô hội, do tính chất giữ ẩm nên được dùng làm kem chống nắng, kem phấn bôi mặt, thuốc mỡ làm lành sẹo.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.

* Chú thích. Tên lô hội  do chữ  lô = đen, hội = tụ, có nghĩa là nhựa có màu đen  đóng thành bánh.

MORINDA UMBELLATA L.-(dây đất)

MORINDA UMBELLATA L.
(Có tên là dây đất)
            Cây mọc leo trên các cây bụi khác, dài có thể đến 10m. Lá có dạng thay đổi, hình bầu dục rộng, thuôn trái xoan hay hẹp hình mũi mác, dài đến 12,5cm rộng đến 4cm. Hoa họp thành đầu khoảng 6mm đường kính tập trung thành tán ở ngọn cành, ít khi ở nách lá. Hoa không cuống, màu trắng. Qủa kép do nhiều qủa dính liền nhau gần hình cầu 6 - 10cm.
Thành phần hóa học
            Rễ cây có chứa các dẫn chất anthranoid: soranjidiol, damnacanthol morindon, morindin.
Công dụng
            Rễ cây dùng để nhuộm, chữa lỵ. Lá để trị giun.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.

MORINDA CITRIFOLIA L.-nhàu núi

MORINDA CITRIFOLIA L.
(Có tên là nhàu hay nhàu núi)
            Cây nhỏ nhẵn. Lá mọc đối, mặt trên láng bóng hình bầu dục, có mũi ngắn ở đầu, hình nêm ở gốc, dài 12 - 30cm rộng 6 - 15cm. Lá kèm gần tròn hay thuôn, nguyên hay chẻ 2 - 3 thùy ở đỉnh. Hoa màu trắng, tập hợp thành hình đầu ở nách lá, đường kính 2 - 4cm. Cây có hoa vào tháng 1 - 2. Qủa hình trứng dài 2,5 - 4cm, qủa kép do nhiều qủa dính lại với nhau, chín vào tháng 7 - 8. Ruột qủa có lớp cơm mềm ăn được. Cây có được trồng ở một số nơi miền trung và miền nam nước ta.
Bộ phận dùng
            Rễ, qủa, lá.
Thành phần hóa học
            Vỏ rễ chứa các dẫn chất anthranoid: alizarin -1 methyl ether (I), rubiadin -1 methyl ether (II), soranjidiol (III), damnacanthol (IV). Người ta cũng đã phân lập được glycosid: morindin (= morindon (V) -primeverose).
Tác dụng công dụng
            Các tác giả Pháp (Planta Med. 56 (1990) 430) nghiên cứu dịch nước rễ nhàu thí nghiệm trên chuột cho thấy có tác dụng giảm đau, an thần, gây ngủ.
            Nhân dân ta có dùng rễ sắc uống để chữa đau lưng, chữa cao huyết áp. Qủa nhàu ăn với muối để làm thuốc điều kinh, dễ tiêu, nhuận tràng, chữa cao huyết áp.
            Lá đắp chữa vết thương, mụn nhọt, làm chóng lên sẹo. sắc uống chữa lỵ, chữa sốt và làm thuốc bổ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.

BA KÍCH-Morinda officinalis How. , họ Cà phê - Rubiaceae

BA KÍCH
Radix Morindae

            Ba kích là rễ phơi hoặc sấy khô của cây ba kích còn gọi là cây ruột gà - Morinda officinalis  How. , họ Cà phê - Rubiaceae.
Đặc điểm thực vật và phân bố
            Dây leo nhỏ, sống lâu năm, ngọn  dây non có màu tím, cành non có cạnh. Lá mọc đối hình mác, lá kèm bé. Hoa tập trung ở đầu cành thành tán nhỏ, hoa lúc non màu trắng sau hơi vàng. Đài 2 - 10 nhỏ, còn lại ở qủa, ống tràng ngắn. Nhị 4, đính trong họng tràng. Qủa khi chín màu đỏ mang đài còn lại ở đỉnh.
            Cây mọc hoang trong rừng thưa thứ sinh, gặp  nhiều ở Quảng ninh, Vĩnh phú, Hà bắc. Có thể trồng ở dạng bán tự nhiên.
Bộ phận dùng, thu hái, chế biến
            Rễ đào quanh năm nhưng tốt nhất vào mùa đông. Đào về rửa sạch đất cát. phơi hay sấy, khi gần khô người ta đập dẹp rồi phơi lại cho thật khô. Sau khi chế biến, dược liệu là những mẫu cong queo, thịt đứt thành từng đoạn để lộ lõi gỗ nhỏ bên trong. Rễ dài 10 - 20cm, đường kính 0,7 - 1,4cm trở lên. Vỏ ngoài màu nâu nhạt, trên mặt có nhiều vân dọc. Thịt màu hồng tím, vị hơi ngọt. Loại rễ to, thịt màu tía là loại tốt.
            Trong đông y ba kích được chế biến trước khi dùng, có ba cách :
            - Ba kích thiên: Ba kích nhặt hết tạp chất, đem hấp cho mềm rồi rút lõi gỗ, cắt thành từng đoạn phơi khô.
            - Chích ba kích : Sắc nước cam thảo, bỏ bã, cho ba kích vào đun đến khi xốp mềm và nước cam thảo gần cạn thì lấy ra rút lõi gỗ khi còn nóng, phơi khô là được. Cứ 100kg ba kích thì dùng 6,40kg cam thảo.
            - Diêm Ba Kích : Ba Kích sạch trộn đều với nước muối, cho vào chõ đồ, rút lõi gỗ, phơi khô (100kg ba Kích thì dùng 2kg muối và lượng nước vừa đủ hòa tan).
Vi phẫu
            Lớp bần gồm 2 - 3 hàng tế bào hình chữ nhật dẹt. Mô mềm vỏ dày, phía ngoài gần sát lớp bần có một lớp mô cứng. Trong phần mô mềm rải rác có tinh thể calci oxalat hình kim cụm lại thành từng bó, một số có hình cầu gai, thỉnh thoảng có những đám nhựa màu vàng. Liber cấu tạo thành 1 lớp mỏng bao bọc quanh gỗ. Gỗ chiếm toàn bộ phần giữa rễ, không có ruột.
            Bột màu nâu xám, mùi thơm, vị hơi ngọt. Nhiều tế bào mô cứng có thành dày, mảnh bần gồm các tế bào hình 6 cạnh đều, mảnh mô mềm, tinh thể calci oxalat hình kim hoặc cầu gai, mảnh mạch hình chấm.
Thành phần hóa học
            Trong rễ có dẫn chất anthranoid (chưa thấy có tài liệu nghiên cứu kỹ), có đường, vitamin C.
Tác dụng và công dụng
            Nước sắc ba kích có tác dụng làm tăng nhu động ruột và làm giảm huyết áp,  không độc.
            Theo Phó Đức Thuần và cộng sự (1990) ba kích có tác dụng trên huyết áp tùy thuộc vào liều sử dụng, liều thấp có xu hướng tăng, liều cao có xu hướng giảm, tuy nhiên số liệu không có ý nghĩa thống kê.
            Y học dân tộc cổ truyền coi ba kích là vị thuốc bổ dương dùng cho nam giới khi chức phận sinh dục bị suy yếu, thuốc bổ gân cốt, bổ trí não, ngoài ra còn có tác dụng chữa bệnh cao huyết áp. Ngày dùng 4 - 12g.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.

CHÚT CHÍT-Rumex wallichii Meissn.

CHÚT CHÍT
Radix Rumicis
            Dược liệu là rễ cây một số loài chút chít - Rumex có chứa anthranoid như: Rumex wallichii Meissn., R. crispus L. , họ Rau răm - Polygonaceae.
Đặc điểm thực vật
            Chút chít là cây thảo sống nhiều năm, cao đến 1m, thân ở gốc có đường kính gần 1cm, ít phân nhánh, có rãnh dọc. Lá mọc so le, các lá ở gốc có kích thước lớn hơn các lá phần trên. Phiến lá dài 30 - 40cm rộng tới 5cm, mép nguyên, các lá ở giữa có cuống ngắn và phiến hẹp hơn, các lá phía trên cũng có phiến rất hẹp, đầu nhọn dài và đáy thắt dần thành cuống không rõ. Bẹ chìa mỏng , khá phát triển. Hoa họp thành chùy ở ngọn, mang rất nhiều hoa, mọc sít nhau nhất là phần đỉnh. Cuống hoa có đốt ở gần gốc. Bao hoa có hai vòng, mỗi vòng có 3 lá đài. Nhị 6 đính ở gốc của bao hoa. Bao phấn đính gốc. Bầu có hình 3 cạnh, 3 vòi nhụy ngắn, rời. Qủa hình ba cạnh nằm trong bao hoa tồn tại.
Bộ phận dùng
            Rễ thu hoạch vào mùa thu. Đào lấy rễ già, rửa sạch, bỏ rễ con, thái mỏng phơi hay sấy khô.
Thành phần hóa học
            Năm 1973 L. Ciulei và cộng sự đã nghiên cứu rễ chút chít - R. wallichii của Việt nam định lượng thấy hàm lượng anthranoid là 2,05% và bằng S.K.L.M. đã xác định có chrysophanol và emodin.
            Năm 1972 Fairbairn và Mutadi đã nghiên cứu 19 loài của chi Rumex và thấy rằng trong tất cả các loài nghiên cứu đều chứa chrysophanol, emodin và physcion. Các chất này có mặt trong tất cả các bộ phận của cây và ở cả 3 dạng: tự do, O và C-glycosid. Đặc biệt một vài loài thấy có vết rhein và một số loài khác còn phân lập được 2 chất có nhóm carboxyl như rhein và chỉ có dạng C-glycosid.
Tác dụng và công dụng
            Năm 1960 G. Hermann, L. Ciulei, Đỗ Tất Lợi, Ngô Ứng Long (Y học tạp chí 2 - 1960) đã thử  tác dụng cao lỏng và thuốc hãm rễ chút chít - Rumex wallichii trên ruột thỏ cô lập thấy có tác dụng tăng nhu động ruột.
            Có thể dùng uống làm thuốc nhuận tràng chữa bệnh táo bón, ăn chậm tiêu. Liều dùng để nhuận tràng 1 - 3g, dùng dưới dạng thuốc sắc thuốc pha hay thuốc bột.
            Nhân dân ta vẫn dùng lá xát vào những chổ bị nấm hắc lào hoặc dùng nước sắc lá và rễ để rửa các mụn ghẻ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.

HÀ THỦ Ô ĐỎ-Polygonum multiflorum Thunb., họ Rau răm - Polygonaceae

HÀ THỦ Ô ĐỎ
Radix Polygoni multiflori
Dược liệu là rễ củ phơi khô của hà thủ ô đỏ - Polygonum multiflorum Thunb., họ Rau răm - Polygonaceae.
Đặc điểm thực vật và phân bố
            Dây leo nhỏ, sống dai, có rễ phình thành củ. Thân quấn mọc xoắn vào nhau, màu xanh tía. Lá mọc so le, hình tim, có mũi nhọn ở  đỉnh, dài 4 - 8cm rộng 2,5 - 5cm. Cuống lá có phủ lông, bẹ chìa mỏng, màu nâu nhạt. Hoa họp thành chùy ở nách lá hay ở ngọn, có nhiều nhánh. Hoa nhiều, nhỏ, đường kính 2mm mọc ở nách các lá bắc ngắn. Bao hoa màu trắng, nhị 8 trong đó có 3 nhị hơi dài. Qủa 3 góc nhẵn bóng nằm trong bao hoa mà 3 mảnh ngoài còn lại phát triển thành cánh rộng.
            Cây mọc hoang ở những vùng núi cao: Lào cai, Sơn la, Lai châu, Nghĩa lộ.
            Khi trồng người ta cắt thân thành những đoạn ngắn rồi dâm vào bầu trong hai tháng trước khi trồng ra luống.
Bộ phận dùng
            Rễ củ tròn hoặc hình thoi không nhất định, thường có những sống lồi dọc theo củ. Củ dài 6 - 16cm, chỗ phình có đường kính 4 - 8cm. Có thể gặp những củ dài đến 40cm, đường kính trên 10cm. Mặt ngoài màu nâu đỏ, mặt cắt màu hồng, có bột. Vị hơi đắng chát. Thu hoạch vào mùa thu, đào lấy củ, rửa sạch, cắt bỏ rễ con. Nếu to thì bổ nhỏ rồi phơi hoặc sấy khô.

Dây hà thủ ô có tên là thủ ô đằng hoặc dạ giao đằng cũng được dùng.
Đặc điểm vi phẫu và bột
            Vi phẫu: Lớp bần màu đỏ nâu. Mô mềm vỏ dầy, rải rác có tinh thể calci oxalat hình cầu gai. Trong mô mềm có nhiều vòng bó liber gỗ được thành lập; vị trí mỗi vòng ứng với những sống lối của củ. Ở phần trung tâm có một vòng liber gỗ cấp II gồm từng đám liber gỗ cách nhau bởi tia ruột rộng.
            Bột: màu nâu đỏ, vị hơi đắng chát, soi kính hiển vi thấy: nhiều hạt tinh bột hình cầu hoặc bán cầu, đường kính 5 - 25mm, rốn hình sao, vạch hay phân nhánh, có hạt kép 2 - 3. Mảnh mô mềm có tế bào thành mỏng, chứa tinh bột. Tinh thể calci oxalat hình cầu gai đường kính 5 -25mm. Mảnh mạch vạch.
Thành phần hóa học
Ngoài tanin ra, trong củ hà thủ ô đỏ còn chứa các dẫn chất anthranoid: acid chrysophanic, emodin, physcion, chrysophanol anthron. Người ta còn phát hiện thấy rhaponticosid (công thức xem bài đại hoàng) và 2,3,5,4’ tetrahydroxystilben 2 - O - β-D glucosid (I).
.Công dụng
            Y học dân tộc cổ truyền dùng hà thủ ô đỏ làm thuốc bổ gan thận, bổ máu, thuốc dùng cho những người có râu tóc bạc sớm, lưng gối đau mỏi, di tinh, đại tiện ra huyết, ung nhọt, tràng nhạc, thần kinh suy nhược, sốt rét lâu ngày. Ngày dùng 12 - 20g dưới dạng thuốc sắc, rượu thuốc, dùng với hà thủ ô đã chế biến. Dây hà thủ ô dùng làm thuốc an thần, thuốc cầm mồ hôi. Dùng ngoài trị lở ngứa.
            Cách chế biến hà thủ ô: Cho hà thủ ô đã thái vào chậu, trộn đều với nước đậu đen và rượu, đổ vào thùng, đặt vào nồi đun cách thủy, đến khi nước đậu trong thùng cạn hết, lấy ra phơi khô. Cứ 100kg hà thủ ô thì cần 10kg đậu đen và 25 lít rượu.
            Cách chế nước đậu đen: cứ 10kg đỗ đen cho 15 lít nước đun 4 tiếng, lấy nước nhất, lại cho thên 10 lít nước khác đun 3 tiếng. Cả hai lần gộp lại.
            Chú thích : Trong nước ta còn dùng một vị thuốc khác mang tên là hà thủ ô trắng. Đó là rễ củ của dây vú bò hoặc dây sữa bò hoặc mã liền an - Streptocaulon griffithii Hook. f. Thuộc họ Thiên lý - Asclepiadaceae. Đây là một loại dây leo dài 3 - 5m, thân màu nâu đỏ, lá hình trứng mọc đối. Toàn cây có nhiều lông, có nhựa mủ trắng. Qủa cấu tạo bởi 2 đại mọc đâm ngang nom như sừng bò, dài 10cm, cũng có nhiều lông. Hạt dẹt có chùm lông. Cây mọc hoang khắp các đồi núi ở nước ta. Rễ củ dài, vỏ ngoài màu nâu vàng, thịt trắng có nhiều bột, giữa có lõi. Trong hà thủ ô trắng không có các dẫn chất anthranoid, trong y học cổ truyền thường hay dùng thay thế hoặc phối hợp với hà thủ ô đỏ. Ở Trung quốc người ta cũng có dùng rễ một cây thuộc chi Cynanchum thuộc họ Thiên lý mang tên là bạch hà thủ ô. Cây này cũng không có các dẫn chất anthranoid.
www.duoclieu.org

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.

CỐT KHÍ CỦ-Poligonum cuspidatum Sieb. et Zucc. , họ Rau răm - Polygonaceae

CỐT KHÍ CỦ
Radix Polygoni cuspidati
Dược liệu là rễ phơi khô của cây cốt khí củ - Poligonum cuspidatum Sieb. et Zucc. , họ Rau răm - Polygonaceae.
Đặc điểm thực vật
            Cây nhỏ sống lâu năm, cao 0.50 - 1m. Trên thân và cành thường có những đốm tím hồng. Lá mọc so le, cuống ngắn, bóng và có màu hồng. Phiến lá  hình trứng rộng, mặt trên xanh thẫm, mặt dưới màu nhạt hơn, dài 5 - 12cm rộng 3,5 - 8cm, đỉnh lá có mũi nhọn. Bẹ chìa ngắn. Hoa mọc thành chùm ở nách lá. Hoa nhỏ màu trắng. Hoa đực 8 nhị, hoa cái có bầu 3 góc. Qủa 3 cạnh màu nâu đỏ. Mọc hoang ở một số vùng miền núi. Làng Nghĩa trai (Hải hưng) có trồng để thu hoạch dược liệu.
Bộ phận dùng , chế biến
            Rễ có đường kính trên 2cm, vỏ nâu, thịt vàng, lõi gỗ màu nâu sẫm. Thu hoạch tháng 10 - 12. Đào rễ, rửa sạch, cắt bỏ rễ con, thái phiến, dày 0,2 - 0,4cm phơi hay sấy khô.
Thành phần hóa học
            Rễ chứa các dẫn chất anthranoid ở dạng tự do và dạng kết hợp glycosid hàm lượng 0,1 - 0,5%. Các thành phần đã xác định: Chrysophanol, emodin, physcion, emodin 8 - b - glucosid. Ngoài các dẫn chất anthranoid trong rễ cốt khí còn có polydatin là một stilben glucosid khi thủy phân cho resveratrol. Trong rễ còn có tanin.

Polydatin R = D - glucose
Resveratrol R = H
            Cành, lá có một ít các dẫn chất anthranoid. Trong lá có các flavonoid: quercetin, isoquercetin, reynoutrin, avicularin, hyperin. Ngoài ra còn có các acid hữu cơ.

Reynoutrin   R = xylose
Avicularin  R = L - aribinofuranose
Hyperin      R = galactose

            Tác dụng và công dụng
            Dược liệu có tác dụng nhuận tẩy, có tác dụng làm hạ đường huyết và cholesterol, có tác dụng kháng khuẩn trên một số loại vi khuẩn như  Staphylococcus aureus,  E.coli, Mycobacterium tuberculosis. Dược liệu có thể gây nôn, gây tiêu chảy, khó tiêu hóa; cũng có trường hợp gây tổn hại gan và suy giảm hô hấp nhưng hiếm.
            Trong Y học cổ truyền dược liệu ít được dùng làm thuốc nhuận tẩy mà dùng để chữa viêm gan, vàng da, chữa tê thấp đau nhức gân xương, viêm phế quản mãn tính. Dùng ngoài để trị bỏng, rửa âm hộ khi bị lở loét. Dùng nước sắc 5%.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.

ĐẠI HOÀNG-Rhizoma Rhei


ĐẠI HOÀNG
Rhizoma Rhei
Chi Rheum có khoảng 50 loài, việc xác định các loài khó vì do có lai tạo giữa các loài và do địa dư khí hậu của từng nơi mà hình thái và cả thành phần hóa học cũng có thay đổi. Dược điển của Trung quốc quy định dùng các loài sau đây:
            - Rheum palmatum L.
            - R. tanguticum Maxim.ex Balf.
            - R.officinale Baill. họ  Rau răm -Polygonaceae.
Đặc điểm thực vật
            Cây thuộc thảo lớn, sống dai nhờ thân rễ to. Lá mọc thành cụm từ thân rễ, có kích thước lớn, có cuống dài, có bẹ chìa, phiến lá hình tim rộng 30 - 40cm, phân thành 5 đến 7 thùy chính, các thùy này cũng có thể phân lần thứ hai hoặc đôi khi lần thứ ba. Lá của Rheum palmatum thì có những thùy sâu hơn R.officinale. Gân lá nổi mặt dưới, thường màu đỏ nhạt. Từ năm thứ 3 -4 thì xuất hiện 1 thân mọc lên cao 1 -2m mang một số lá nhỏ. Phần ngọn thân là chùm hoa hình chùy mang nhiều hoa. Bao hoa gồm 6 bộ phận màu trắng, xanh nhạt, hoặc đỏ nhạt, 9 nhị. Qủa đóng 3 góc.
Phân bố, thu hái
            Cây nguồn gốc ở Trung quốc được dùng từ lâu đời và dần dần thâm nhập vào châu Âu. Ở Trung quốc cây mọc hoang hoặc trồng ở Cam túc, Thanh hải, Tứ xuyên. Đại hoàng mọc ở tỉnh Tứ xuyên được chuộng và được gọi là xuyên đại hoàng. Hiện nay đại hoàng cũng đã được di nhập trồng ở nhiều nước: Hà lan, Pháp, Mỹ, Nhật, Liên xô cũ. Ta còn phải nhập của Trung quốc.
Cây ưa mọc ở khí hậu mát, ẩm, ở độ cao trên 1000m. Người ta thu hoạch thân rễ của nhữmg cây đã mọc trên 3 -4 năm (ở những vùng có cây mọc hoang thì có thể 6 - 10 năm) vào mùa thu, khi cây bắt đầu lụi.
Thân rễ tươi to có thể có chiều dài 20 - 30cm, rộng 8 -10cm, có nhiều nhánh rễ hình trụ đường kính 2 -3cm. Sau khi đào về thì cắt bỏ rễ, còn thân rễ đem gọt bỏ vỏ ngoài, bổ nhỏ (dọc hoặc ngang) rồi phơi hoặc sấy khô. Cất giữ sau một năm mới dùng.
Mô tả dược liệu
            Những miếng hình thù không giống nhau, hình trụ hoặc 1 mặt phẳng 1 mặt lồi, dài 5 đến 15cm, rộng 3 - 10cm, lớp bần và 1 phần vỏ ngoài đã được gọt đi. Bề mặt màu vàng nâu, đôi khi có những đám màu đen nhạt, có miếng thấy lỗ chỗ những lỗ kim. Thứ cứng chắc, mùi thơm dịu là tốt.
            Vi phẫu : Trên vi phẫu cắt ngang, từ ngoài vào trong ta thấy mô mềm vỏ hẹp, liber  ít phát triển rồi đến tầng sinh gỗ từ  3 - 5 hàng tế bào. Phía trong tầng sinh gỗ sắp xếp tỏa tròn. Phần ruột rộng có cấu tạo cấp ba được thành lập nhờ những tượng tầng phụ xuất hiện dưới dạng những vòng tròn nhỏ sinh ra liber ở giữa và gỗ chung quanh. Các đám liber gỗ cấp ba này có các tia ruột tỏa ra nom có dạng hình sao rất đặc biệt. Tất cả các phần mô mềm đều chứa nhiều tinh bột và calci oxalat hình cầu gai.

            Bột: Màu vàng xẫm. Dưới ánh sáng tử ngoại có huỳnh quang nâu.
            Soi dưới kính hiển vi ta thấy: tinh thể hình cầu gai to, đường kính 50 - 200mm, tinh bột hạt đơn 5 - 20mm có rốn hình sao có các hạt kép 4 - 5, mảnh tia ruột màu vàng, thêm kiềm thì chuyển thành màu đỏ, các mảnh tế bào mô mềm chứa hạt tinh bột, các mảnh mạch vạch, mạch mạng.
Thành phần hóa học
            Thành phần hoạt chất trong đại hoàng chủ yếu là những dẫn chất anthranoid, hàm lượng trong đại hoàng Trung quốc: 3 - 5%, tồn tại dưới các dạng khác nhau:
            + Anthraquinon tự do. Tỉ lệ khoảng 0,10 - 0,20% theo dược liệu khô và gồm có: chrysophanol, emodin, physcion, aloe emodin và rhein (công thức, xem phần đại cương).
            + Các glucosid của anthraquinon. Chiếm khoảng 60 - 70% của toàn phần hoạt chất và gồm các glucosid của các aglycon nói ở trên.
            +  Các glucosid của các anthranol và anthron tương ứng với những aglycon nói trên. Những dẫn chất này dễ bị oxy hóa thành các dẫn chất anthraquinon và chỉ tồn tại trong dược liệu tươi về mùa đông (về mùa hè chủ yếu là các dẫn chất ở dạng oxy hóa) do đó thu hoạch tốt nhất về mùa thu.
            + Các dẫn chất dimer dianthron tồn tại trong cây dưới dạng mono và diglucosid. Người ta gặp lại sennidin A, B, C như  trong phan tả diệp.
            + Các heterodianthron carboxylic như rheidin A, B, C, các heterodianthron không có nhóm carboxyl như palmidin A (= heterodianthron của emodin và aloe emodin), palmidin B (= heterodianthron của aloe emodin và chrysophanol) và palmidin C (= heterodianthron của rheum emodin và chrysophanol).
            + Trong đại hoàng còn có deshydrodianthron như dirhein.
            Chúng ta cũng cần lưu ý rằng tỷ lệ giữa các hoạt chất nhuận tẩy phụ thuộc rất nhiều vào thời kỳ thu hái, tuổi cây, địa dư, cách phơi sấy và chủng loại.
            Thành phần thứ hai đáng chú ý là tanin (khoảng 5% - 12%) chủ yếu thuộc nhóm pyrocatechic và một phần thuộc nhóm pyrogallic. Các chất này dễ tan trong cồn. Ngoài ra trong đại hoàng còn có nhiều chất vô cơ (nhiều calci oxalat). Tinh bột, pectin; một chất nhựa ít được nghiên cứu cũng có tác dụng tẩy xổ.
            Định tính. Phản ứng Borntraeger: Đun sôi hai phút 0,10g bột với 5ml H2SO4 N. Lọc, dịch lọc đem lắc với đồng thể tích benzen. Lớp benzen có màu vàng do có các anthraquinon tự do hòa tan. Tách lớp benzen rồi lắc với ammoniac, lớp ammoniac sẽ nhuộm màu đỏ. Lớp benzen còn lại hơi có màu vàng (do chrysophanol) nếu đem lắc với dung dịch KOH N thì lớp benzen hết màu còn lớp KOH  có màu hồng.
            Sắc ký. Dược điển Pháp 1965 dùng sắc ký giấy để định tính các dẫn chất anthranoid và để phát hiện sự trộn lẫn các loài Rheum khác như R. rhaponticum L., R.undulatum L. Các loài Rheum này ngoài các dẫn chất anthranoid còn có thêm một heterosid đặc biệt là rhaponticosid (= glucosid của trihydroxy-3,5,3’-methoxy-4’- stilben). Chất này có hoạt tính estrogen và có huỳnh quang xanh dưới ánh đèn tử ngoại. Người ta tiến hành sắc ký giấy bằng cách chấm 5 - 10ml một dung dịch 1/5 dược liệu trong cồn 60°, khai triển theo chiều đi lên với dung môi butanol-acid acetic-nước (4:1:5). Dưới ánh sáng tử ngoại thì có các vết da cam có các Rf khoảng 0,55 ; 0,70 và 0,95 (các dẫn chất anthranoid), các vết này có màu hồng đến đỏ ở ánh sáng thường sau khi phun dung dịch KOH trong cồn. Không được có những vết màu xanh dưới ánh đèn tử ngoại do rhaponticosid và genin của nó (Rf khoảng 0,5 và 0,80).
            Dược điển Trung quốc áp dụng S.K.L.M để xác định đối chiếu mẫu kiểm nghiệm với mẫu đại hoàng chuẩn cùng tiến hành trong những điều kiện như nhau: chiết bằng methanol bốc hơi đến khô, thêm nước và acid hydrochloric rồi đun 30 phút trên nồi cách thủy để thủy phân. Làm nguội, chiết các anthraquinon tự do với ether, bốc hơi ether, hòa tan cặn trong chloroform để chấm chạy sắc ký. Sắc ký hai chiều với bản mỏng silicagel G. Dung môi thứ nhất là lớp trên của hỗn hợp benzen -ethylformat - methanol - acid formic - nước (3:1 : 0,2 : 0,05 : 0,5), dung môi thứ hai là lớp trên của hỗn hợp hexan- ether dầu hỏa (điểm sôi 60 - 90oC)- ethylformat - acid formic - nước (3 : 1 :1,5 : 0,1 : 0,5). Phát hiện dưới đèn U.V (254nm ).
            Định lượng. Dược điển Việt nam chọn phương pháp Auterhoff để định lượng các dẫn chất anthranoid trong đại hoàng. Cân chính xác khoảng 0,05g dược liệu đã tán thành bột mịn, cho vào một bình nón 100ml. Thêm 7,5ml acid acetic băng (T.T) và đun sôi hỗn hợp trong 15 phút với ống sinh hàn ngược. Sau khi nguội, thêm vào bình qua ống sinh hàn ngược 30ml ether ethylic (T.T) và đun sôi 15 phút trên nồi cách thủy. Làm nguội dịch chiết, lọc qua bông vào một bình gạn 300ml và rửa bông bằng 20ml ether ethylic (T.T). Cho bông vào bình nón, thêm 30ml ether ethylic (T.T) và đun sôi 10 phút nữa. Lọc dịch chiết ether đã làm nguội qua bông khác vào bình gạn nói trên. Tráng bình nón hai lần bằng ether ethylic (T.T), mỗi lần dùng  10ml và lọc qua bông trên. Thêm cẩn thận 100ml dung dịch NaOH - ammoniac vào dịch chiết ether - acid acetic đựng trong bình gạn, lắc trong 5 -7 phút rồi làm nguội bình. Sau khi hỗn hợp đã phân lớp hoàn toàn, gạn lớp nước màu đỏ và trong suốt ở dưới vào một bình định mức 250ml. Chiết lớp ether còn lại với từng lượng 20ml dung dịch NaOH - ammoniac cho đến khi lớp nước không có màu. Tập trung các dung dịch nước kiềm vào bình định mức và thêm dung dịch kiềm tới vạch.
            Hút 25ml dung dịch thu được cho vào một bình nón và đun nóng 15 phút trên nồi cách thủy với ống sinh hàn ngược. Sau khi nguội, đo mật độ quang của dung dịch bằng quang kế với kính lọc màu lục, trong cốc dày 1cm, so sánh với nước. Khi dung dịch có màu quá sẫm, trước khi đo phải pha loãng bằng dung dịch NaOH - ammoniac.
            Nồng độ dẫn chất anthranoid trong dung dịch cần đo được biểu thị bằng 1,8 - dihydroxy anthraquinon và xác định theo đường cong chuẩn xây dựng bằng các dung dịch cobalt chlorid. Để có đường cong chuẩn, pha một dãy dung dịch cobalt chlorid có nồng độ từ  0,2 - 5% và đo mật độ quang của các dung dịch này, biết rằng mật độ quang học của dung dịch cobalt chlorid 1% bằng mật độ quang của 0,36mg 1,8-dihydroxy anthraquinon trong 100ml dung dịch NaOH - ammoniac.
            Dược liệu phải chứa ít nhất 2,5% dẫn chất anthranoid biểu thị bằng 1,8 - dihydroxy anthraquinon.
            (Dung dịch HaOH - ammoniac : Cách pha xem phần đại cương)
            Định lượng các Anthranoid acid. Người ta cho rằng những dẫn chất carboxylic của đại hoàng có vai trò sinh lý đáng kể nên có khi tiến hành định lượng riêng phần này. Muốn vậy, từ dịch chiết các dẫn chất anthranoid toàn phần  trong chloroform (theo phương pháp chiết xuất chung) người ta trích ra một thể tích xác định rồi đem lắc với dung dịch natri hydrocarbonat trong nước. Dung dịch này chỉ hòa tan các dẫn chất anthranoid mà trong phân tử có gốc carboxyl. Tiếp theo, đem acid hóa dung dịch hydrocarbonat rồi chiết các dẫn chất anthranoid acid bằng ether, sau đó đem lắc dung dịch ether với dung dịch alcalihydroxyd rồi mới tiến hành so màu.
Tác dụng và công dụng
            Những dẫn chất anthranoid trong đại hoàng có tác dụng lên đại tràng, làm giảm sự tái hấp thu nước bằng cách làm tăng tiết dịch và tăng nhu động ruột. Uống sau 8 - 12 giờ mới có tác dụng. Thuốc có tác dụng cả lên cơ trơn của bàng quang và tử cung do đó phụ nữ có thai hoặc người bị viêm bàng quang không nên dùng. Do có tác dụng phụ là gây sung huyết nên không dùng cho người bị trĩ.
            Ở liều nhỏ (0,05 - 0.10g) đại hoàng là thuốc bổ, giúp tiêu hóa, liều 0,1 - 0,15g làm thuốc nhuận, 0,5 - 2g là liều xổ. Tuy là thuốc nhuận tràng nhưng dùng lâu thì cũng có thể gây táo bón do phần tanoid tích lũy.
            Các dạng anthron thì có tác dụng kích ứng nên không bao giờ dùng dược liệu tươi
            Đại hoàng còn có tác dụng kháng khuẩn đối với một số loại vi khuẩn như tụ cầu, lỵ, thương hàn.                
            Vì đại hoàng có chứa nhiều calci oxalat nên không dùng lâu cho người bị kết thạch thận oxalic.
            Đơn thuốc:Đại hoàng 7g, cam thảo 4g, nước 300ml sắc còn 100ml. Uống lúc đói, chữa bí đại tiện, nôn mửa.
            Bào chế đại hoàng trong Y học dân tộc cổ truyền :
            - Dùng nước tẩm, ủ cho mềm rồi thái phơi khô
            - Tửu đại hoàng tức là đại hoàng tẩm rượu: 50kg đại hoàng thêm 50kg rượu, cho vào nồi đun nhỏ lửa, hơi se thì lấy ra, thái, phơi chỗ mát.
            - Đại hoàng thán là đại hoàng thái miếng, cho vào nồi sao lửa đến khi bên ngoài có màu nâu cánh dán, vẫn còn hương vị đại hoàng, phun rượu.
            -Thục đại hoàng: thái miếng nhỏ, trộn với rượu, cho vào thùng đậy kín, đặt vào nồi nước, đun cách thủy cho chín, lấy ra phơi khô là được. Cứ 50kg đại hoàng thì 15 - 20kg rượu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật. 

Ô MÔI-Cassia grandis L.f. hoặc Cassia fistula L. , họ Vang - Caesalpiniaceae

Ô MÔI
Pulpa Cassiae grandis
            Dược liệu là cơm qủa của cây ô môi, còn gọi là bò cạp nước * - Cassia grandis L.f. hoặc Cassia fistula L. , hVang - Caesalpiniaceae.
Đặc điểm thực vật và phân bố         
Cây thân gỗ cao 10 - 12m, thân có đường kính 42 - 60cm, vỏ nhẵn, cành trải ra, rậm lá, cành non có góc cạnh rõ rệt và có lông nâu. Lá kép một lần lông chim chẵn dài 25 -30cm có 8 - 20 đôi lá chét. Lá chét  dài 3,5 - 6,5cm rộng 1,5 - 2cm hình bầu dục, gốc và ngọn lá đều tròn, cuống lá chét 1 - 2mm, lá chét dày, dai, có lông. Cụm hoa: chùm, ngắn, dài 12 - 15cm. Cánh hoa màu hồng. Quả dài 40 -60cm, hình trụ, đường kính 3 -4cm. Qủa khi chín có vỏ màu nâu đen, có 3 gân nổi rõ chạy từ cuống đến núm qủa. Qủa có những ngăn vách ngang chia làm nhiều ô, mỗi ô có một hạt dẹt, cơm qủa mềm ngọt màu nâu đen khi chín, có mùi hắc. Cây ô môi được trồng ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu long và một số tỉnh miền Bắc như Hải hưng, Hà tây, Hà nội. Cây ô môi có nguồn gốc ở Brasil.
Thành phần hóa học
            Cơm qủa có chứa các dẫn chất anthranoid, hàm lượng 1,1% gồm có: rhein, sennosid A và B, acid fistulic (=1,4-dihydroxy-6,7-dimethoxy-2-methyl 3-carboxyl anthraquinon). Ngoài ra còn có các đường: glucose, fructose, sucrose, tanin.
            Cơm qủa được sử dụng làm thuốc nhuận tẩy. Tác dụng kháng khuẩn cũng đã được xác nhận. Vỏ cây chứa tanin với hàm lượng cao có thể dùng để chiết tanin.
            Hoa có methyl eugenol nên hấp dẫn loại ruồi cam.
Công dụng
            Theo kinh nghiệm nhân dân, cây ô môi có cơm qủa ngọt, ăn được, chế rượu thuốc có màu đỏ nâu đẹp, có tác dụng kích thích tiêu hóa, chữa đau lưng, nhức xương. Lá dùng để chữa hắc lào, lở ngứa.

* Ở một số tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long còn gọi là “Canh-ki-na Việt Nam”, chú ý đừng nhầm với cây Canh-ki-na - Cinchona.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.

MUỒNG TRÂU-Cassia alata L., họ Vang - - Caesalpiniaceae

MUỒNG TRÂU
Folium Cassiae alatae

            Dược liệu là lá chét cây muồng trâu - Cassia alata L., họ Vang - Caesalpiniaceae.
Đặc điểm thực vật và phân bố
Cây nhỏ cao 1,50m có khi đến 3m, thân gổ mềm có đường kính 10 - 12cm hoặc hơn. Lá kép lông chim chẵn, dài 30 - 40cm, có 8 - 14 đôi lá chét. Lá chét hình trứng, gốc và đỉnh lá đều tròn. Đôi lá chét đầu tiên (phía cuống) nhỏ nhất và cách đôi lá chét thứ  hai một quãng hơi xa hơn so với quãng cách giữa các đôi lá chét sau. Lá chét trên cùng có thể dài đến 12 - 14cm, rộng 5 - 6cm. Cụm hoa mọc thành bông dày đặc nhiều hoa. Bông dài 30 - 40cm. Hoa màu vàng sẫm. Quả loại đậu dài 8 - 16cm rộng 15 - 17mm, có hai cánh suốt theo chiều dọc của qủa. Qủa có tới 60 hạt. Muồng trâu mọc hoang và được trồng ở một số nơi miền trung và miền nam nước ta.
Thành phần hóa học
            Trong lá, quả và rễ đều có chứa các dẫn chất anthranoid. Trong lá có các chất sau đã được phân lập và xác định: chrysophanol, aloe emodin, rhein, emodin.
            P.P.Rai (1978) đã phân lập và định lượng các anthraglycosid trong lá và qủa muồng trâu, kết quả được dẫn trong bảng dưới đây:


Các anthranoid tự do dạng oxy hóa
Phần trăm theo khô
Các aglycon dưới dạng glycosid
Phần trăm theo khô
Toàn phần, phần trăm theo khô
Aloe emodin
0,1
Rhein
Aloe emodin
0,1
0,2
Quả
Rhein
Aloe emodin
Emodin
0,3
Rhein
Aloe emodin
Emodin
1,0
1,3

            Qua kết qủa trên cho thấy hàm lượng các dẫn chất anthranoid trong quả cao hơn lá, do đó có tác dụng nhuận tẩy mạnh hơn.
            Trong rễ có 2 dẫn chất anthraquinon đã được phân lập: (Tiwari Ram.D. và Yadava D.P. 1971): 1,3,8-OH, 2-CH3 -anthraquinon (I); 1,5-OH, 2-CH3 , 8-OCH3, 3-O-glucosyl anthraquinon (II).
            Ngoài thành phần anthranoid trong muồng trâu còn có kaempferol là một flavonoid và sitosterol.
Tác dụng và công dụng
            Tác dụng nhuận tẩy của lá đã được xác định bằng thí nghiệm trên súc vật, có thể dùng qủa. Nhân dân ta thường dùng lá để chữa hắc lào bằng cách giã nát rồi xát vào nơi bị nấm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.