Showing posts with label CARBOHYDRAT. Show all posts
Showing posts with label CARBOHYDRAT. Show all posts

Friday, 3 August 2012

Inulin – Fructan

1.         Inulin – Fructan

1.1.   Cấu tạo

Các fructan polymer thường được biết với tên gọi là inulin. Fructan là những oligo hay polysaccharid được cấu tạo từ các đơn vị fructofuranosyl (F) nối vơi nhau qua dây nối β-(2→1) với số lượng từ 2 – 60 monomer trong phân tử [L. De leenheer. Carbohydrate as Organic Raw Materials, Vol. III, VCH, 1996, p.67], nhưng cũng có thể tới hàng ngàn đơn vị. Các fructan thường có cấu tạo mạch thẳng chỉ gồm các đơn vị đương fructose với đơn vị đường tận cùng là fructopyranose (Fpy), nhưng cũng có thể có đơn vị tận cùng là glucopyranosyl (Gpy) nối vào bằng dây nối α-(1→2) (ví dụ như 1,1-kestotetraose). Tên các fructan thường được gọi như sau: các fructan không có đường glucose tận cung được gọi là β-D-fructopyranosyl-[D-fructofuranosyl](n-1)-D-fructofuranosid, và được viết tắt là FpyFn. Các fructan có đường glucose tận cùng được gọi là các α-D-glucopyranosyl-[β-D-fructofuranosyl](n-1)-D-fructofuranosid và được viết tắt là GpyFn.
Trên thực tế, cũng gặp những trường hợp mà các fructose nối với nhau bằng dây nối β-(2→6) xen với các đường fructose nối với nhau bằng dây nối β-(2→6) (ví dụ như 1&6 kestotetraose) và C6 của đường glucose được nối thêm với đường fructose bằng dây nối β-(2→6) (ví dụ như 1&6G-kestotetraose). Các fructan cũng đôi khi phân nhánh như trường hợp của 1&6 kestotetraose. [Ian MS. Phytochemistry 63 (2003) 351-359].
Tùy theo nguồn gốc mà các fructan có cấu tạo và mức độ trùng hợp khác nhau. Các fructan trong các loại ngũ cốc thường có mạch ngắn trong khi của các cây họ cúc có mạch dài hơn.

1.2.   Tính chất

Các fructan tan khá tốt trong nước. Các fructan mạch dài kém tan hơn loại mạch ngắn và có thể tạo dạng vi tinh thể trong nước. Các vi tinh thể này không có vị riêng nhưng có thể tạo thành thể chất mịn như kem tạo cảm giác béo trong miệng nên được dùng để thay thế chất béo trong một số loại thực phẩm ăn kiêng.
Các fructan bị thủy phân bởi các enzym inulinase trong thực vật. Inulinase là các glycosides thủy phân dây nối β-2,1 của các fructan để cho các sản phẩm trung gian là các oligosaccharid và sản phẩm cuối là fructose vì thế nó là dạng tích trữ năng lượng của một số loài thực vật. Fructose là chất sinh năng lượng trong cơ thể tương tự như glucose, đồng thời là một chất có độ ngọt cao thường được dùng trong thực phẩm.
Các fructan cũng chịu tác động bởi inulin fructotransferase (tạo DFA-III), một lyase có tác dụng cắt 2 đường cuối mạch tạo nên các oligosaccharid có mạch ngắn hơn. Disaccharid là sản phẩm của enzym này là α-D-fructofuranose-β-D-fructofuranose 1,2’:2,3’-dianhydrid (DFA-III) không được cơ thể tiêu hóa nhưng có tác dụng tăng cường hấp thu các muối khoáng (Ca, Mg...) trong ruột. Enzym inulin fructotranferase (tạo DFA-III) nhưng cho sản phẩm là một disaccharid α-D- fructofuranose-β-D-fructofuranose 1,2’:2,1’- dianhydrid (DFA-III). Cả 2 disaccharid này đều không được tiêu hóa và có độ ngọt và năng lượng bằng ½ đường saccharose, có giá trị trong thực phẩm như các chất ngọt nghèo năng lượng.

1.3.   Tác dụng dược lý và công dụng

Trong dinh dưỡng, fructan được xem như là những chất xơ tan trong nước không có giá trị dinh dưỡng do trong dạ dày và ruột non của người không có các enzym thủy phân các chất này. Chúng không được hấp thu ở ruột non nhưng được lên men và thoái giáng hầu như hoàn toàn ở ruột già [Wang X. et al. J. Appl. Bacteriol. 75 (1993) 373-380] bởi một số loại vi khuẩn đường ruột có ích như các Bifidobacterium spp., Lactobacillus spp. Bổ sung các fructan trong khẩu phần là cung cấp trường dinh dưỡng cho các Bifidobacteriumphát triển giúp áp chế sự phát triển của các vi khuẩn lên men thối có hại trong ruột già [Gibson, G.R. et al. J. Nutr. 1995,125,1401-1412; Hidaka et al. Bifidobact. Microflora 1986, 5,37-50; Tomomatsu, H. Food Technol. 1994,48,61-65]. Sự lên men và phát triển của các Bifidobacterium còn sản sinh ra các chất acid mạch ngắn như acetic, propionic, butyric dễ dàng được hấp thu ở ruột già. Butyrat được coi như là nhiên liệu cho lớp màng nhày trong khi acetat và propionat ảnh hưởng lên các chuyển hóa carbohydrat và lipid [Alles MS. et al. Am. J. Clin. Nutr. 69(1999)64]. Trong dinh dưỡng, các fructan thường được xem là các prebiotic.
Fructan khi sử dụng trong dinh dưỡng có tác dụng tăng cường sự hấp thu của một số muối khoáng như calci, magnesi cần thiết cho cơ thể, đồng thời tăng cường sự tổng hợp các vitamin nhóm B. [Lopez-Molina D. et al. Phytochemistry 66 (2005)1476-1484]
Cũng như các polysaccharid không tiêu hóa được khác, fructan có ảnh hưởng lên chức năng của ruột, làm tăng tần xuất bài tiết và làm gia tăng lượng phân, đặc biệt ở các bệnh nhân táo bón. [Gibson G. R. et al. Gastroenterology 1995;108:975-982]
Các oligosaccharid của fructan còn có tác dụng lên hệ thống miễn dịch, làm giảm sự hấp thu cholesterol và làm giảm cholesterol và lipid trong huyết tương [Coudray C. et al. 1997. Eur. J. Clin. Nutr. 51,375-380; Niness, K.R. 1999. J. Nutr. 129,1402-1406]
Các fructan làm giảm lượng đường hấp thu nhưng không ảnh hưởng tới đường huyết cũng như sự tiết insulin, glucagon [Beringer A. et al. Dtsch. Z. Verdauungs Stofwechselkrankh (1995) 12:268-272]
Các nghiên cứu gần đây cho thấy các fructan có thể đóng vai trò trong việc ngăn ngừa và ức chế ung thư ruột kết và ung thư vú [Cooper P. et al. Mol. Immunol. 1986;23:903-908; Rowland I.R. et al. Carcinogenesis 1998;19:281-285]. Các fructan cũng có tác dụng ức chế sự phát triển của các khối u ác tính trên động vật thí nghiệm. Khi dùng phối hợp với các thuốc điều trị ung thư loại độc tế bào các fructan cũng tăng cường hoạt lực của các thuốc này trên chuột nhắt bị gây ung thư bởi dòng ung thư gan người di căn [Taper HS. et al. Nutr. Cancer. 2000;38(1):1-5]
Các nghiên cứu trên chuột nhắt cho thấy fructan của rễ Ngưu tất (Achiranthes bidentata) có tác dụng kích thích hệ miễn dịch, ức chế sự phát triển và di căn của tế bào ung thư cũng như bảo vệ và phục hồi chức năng gan. [WO/2001/037844]
Fructan là những chất an toàn cho con người [Clevenger et al. J. Am. Col. Toxicol. 1988,7,643-662; Tokunaga et al. J. Nutr. Sci. Vitaminol. 1986;32,111-121], không có các tác dụng phụ trên chuột cống ở liều 1,67g/kg/ngày [Tokunaga et al. J. Nutr. 1989,19,553-559]. Việc sử dụng inulin trong khẩu phần dinh dưỡng hàng ngày ở liều 1 – 2.75 g/ngày có tác dụng kích thích sự phát triển của Bifidobacteria [Roberfroid M.B. Br. J. Nutr. 80 (1998)197; Hidaka H. et al. Bifidobact. Microflora 5(1986)37]. Tuy nhiên, ở liều cao trên người (44-49g/ngày) có thể gây ra tiêu chảy trên một số người. [Hata Y. et al. Geriatr. Med. 23(1985)]
Trong sinh hóa lâm sàng, người ta dùng inulin để đo thanh thải inulin xác định mức độ lọc tiểu cầu thận vì nó chỉ được lọc ở tiểu cầu mà không bị tái hấp thu và lọc ở tiểu quản thận.

1.4.   Nguồn gốc fructan trong thiên nhiên

Fructan là những chất phân bố rộng rãi trong sinh vật, trong các sinh vật tiền nhân cũng như trong thực vật bậc thấp và bậc cao. Trên 36.000 loài thực vật được biết có fructan [Carpita N. C. et al. J. Plant Physiol. 1989;134:162-168]
Trong thực vật, fructan thường gặp trong các cơ quan dự trữ như củ, thân rễ nhưng cũng có thể gặp trong các bộ phận khác. Một số loài sử dụng fructan làm chất dự trữ năng lượng. Vì thế, thực vật có chứa fructan thường không có tinh bột. Trong các loài thực vật thông dụng trong cuộc sống, fructan thường gặp trong một số loài cây họ Cúc (Asteraceae) như rau Diếp xoăn (Cichorium intybus), Actiso, Bồ công anh, Thược dược, Hướng dương củ (Helianthus tuberosus), Thổ mộc hương (Inula helenium), Ngưu bàng (Arctium lappa)... ngoài ra còn gặp trong một số loài thuộc các chi như Allium (Hành, Tỏi, Tỏi tây...), Măng tây (Asparagus), Dioscorea, Agave, Cordylin, Chuối, Củ đậu (Pachyrhizus erosus) và một số loại Lúa mạch. Trong Actiso, hàm lượng inulin có thể tới 3% trong cây tươi [van Loo, J. et al. 1995. Crit. Rev. Food Sci. Nutr. 35, 525-552.]
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bộ môn dược liệu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Bộ môn dược liệu (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội.
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học.
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.

Beta glucan

1.         Beta glucan

1.1.   Cấu tạo

β–D-glycan là những hợp chất có cấu tạo từ rất nhiều phân tử đường dãy D nối với nhau bằng dây nối β–D-glycosid, quan trọng hơn cả là (1,3)- β–D-glucan, còn 1,4 - β–D-glucan đã nói đến trong phần cellulose, ngoài ra còn có (1,6)- β–D-glucan.
Với các dẫn chất (1,3)- β–D-glucan, phân tử có cấu tạo có thể chỉ là 1 mạch thẳng tạo bởi các liên kết 1→3 hay có thể “phân nhánh” bởi các liên kết 1→6 hay 1→4. Người ta thường gọi chúng là các (1,3/1,6)- β-D-glucan hay (1,3/1,4)- β-D-glucan. Các nhánh thường ngắn hơn so với nhánh của tinh bột. Các (1,3)- β–D-glucan khác nhau bởi khối lượng phân tử, chiều dài mạch chính, mức độ phân nhánh và chiều dài mạch nhánh. Kiểu cấu tạo mạch của các (1,3)- β–D-glucan có sự phân biệt khá lớn theo nguồn gốc sinh vật của chúng. Các (1,3)- β–D-glucan của vi khuẩn thường là một mạch thẳng (ví dụ như curdlan của loài vi khuẩn Agrobacterium biobar). Các (1,3)- β–D-glucan của nấm thường là một mạch phân nhánh dạng xương cá với mạch nhánh ngắn nối vào mạch chính bằng dây nối 1→6, (ví dụ như schizophyllan của nấm Schizophyllum commune). Các (1,3)- β–D-glucan của nấm men có cấu tạo tương tự như của nấm nhưng có mạch nhánh dài hơn. Các (1,3)- β–D-glucan của thực vật bậc cao là một mạch thẳng trên đó xen kẽ giữa những đoạn mạch đường nối với nhau bằng dây nối 1→3 là những đoạn có cấu tạo 1→4 [Volman J. J. et al. (2008) Physiology & Bihavior;94:276-284]. Tỉ lệ giữa phần có cấu tạo 1→3 và phần có cấu tạo 1→4 khác nhau tùy theo từng loài thực vật.
Các mạch nhánh này còn có thể kết hợp với protein tạo nên các proteopolysaccharid phưc tạp vi dụ như polysaccharid-K (PSK) và PSK trong nấm vân chi (Trametes versicolor).

1.2.   Tính chất

Dây nối β-1,3-glucan làm cho mạch polysaccharid có dạng xoắn tương tự như tinh bột. Cũng như các gôm, pectin và chất nhầy, (1,3)-β–D-glucan tan trong nước nóng và tan một phần trong nước lạnh. Dung dịch nước của các (1,3)- β–D-glucan ở nồng độ cao có độ nhớt cao. Do có cấu trúc mạch xoắn dài nên dung dịch (1,3)- β–D-glucan trong nước cũng có tính chất tạo gel. Mức độ hòa tan và khả năng tạo gel của (1,3)- β–D-glucan phụ thuộc vào khối lượng phân tử và mức độ phân nhánh của chúng.

1.3.   Tác dụng dược lý và công dụng

Đặc tính sinh học quan trọng được chú ý nhiều nhất của (1,3)- β–D-glucan là tác dụng của chúng trên hệ miễn dịch. Các nghiên cứu cho thấy nhiều (1,3)- β–D-glucan là những chất có tác dụng kích thích miễn dịch không đặc hiệu. (1,3)- β–D-glucan có tác dụng làm tăng đáp ứng miễn dịch ở các bạch cầu và các tế bào biểu mô mà tác dụng chủ yếu là bởi điều hòa sản xuất cytokin.
Các nghiên cứu in vitro cho thấy một số (1,3)- β–D-glucan có tác dụng làm gia tăng các hoạt tính chức năng của đại thực bào kích thích tiết TNFα, làm hoạt hóa chức năng kháng khuẩn của bạch cầu đơn nhân và bạch cầu trung tính [Williams DL. Med inflamm 1997;6:247-50, Tzianabos AO. Clin Microbiol Rev. 2000;13:523-33], làm tăng đáp ứng miễn dịch bởi gia tăng sản xuất cytokin tiền viêm, bùng phát oxy hóa và sản xuất chemokin [Adachi Y. et al. Biol Pharm Bull 1994;17:1554-60. Olson EJ. et al. Infect Immun 1996;64:3548-54.]. các đặc tính này giúp cơ thể chống lại sự nhiễm khuẩn cũng như tiêu diệt các tác nhân gây bệnh. Hồng cầu nguời khi ủ với (1,3)- β–D-glucan nấm men cũng cho thấy sự gia tăng sản xuất TNFα, IL-6, IL-8 và TF [Engstad CS. et al. Int. Immunopharmacol. 2002;2:1585-97.]. các thử nghiệm trên người bằng cách tiêm truyền PGG-glucan (betafectin) thu được từ nấm men bia Saccharomyces cerevisiae trên các bệnh nhân giải phẫu có nguy cơ cao có tác dụng giảm nguy cơ nhiễm trùng, mức độ sử dụng kháng sinh và rút ngắn thời gian săn sóc đặc điểm và tăng khả năng sống so với placebo là nước muối sinh lý. [Babineau TJ. et al. Arch Surg 1994;129:1204-10. Dellinger EP. tt al. Arch Surg 1999;134:977-83]
Các (1,3)- β–D-glucan làm tăng sản xuất đại thực bào, bach cầu và các tế bào tiêu diệt ung thư tự nhiên của cơ thể cũng như tăng hoạt tính của các tế bào T-helper, làm tăng mưc IL-1, and TNFα. Các yếu tố này có tác dụng trên việc ngăn cản sự phát triển khối u trên động vật thử nghiệm. Polysaccharid trong vân chi (Trametes vesicolor) sau khi uống 48-72 giờ có thể làm tăng hoạt tính của các tế bào miễn dịch lên tới 30 lần hay hơn.
Theo viện nghiên cứu Ung thư Mỹ, các (1,3)- β–D-glucan ở dạng hòa tan gắn kết với các bạch cầu ở bổ thể cảu receptor 3 (CR3) của vùng lectin, làm mồi cho receptor khởi đầu quá trình mất nhân gây độc tính của các bạch cầu khi bạch cầu CR3 gắn kết với khối u mặt ngoài có bổ thể 3 (iC3b). Như vậy, sự gắn kết của các (1,3)- β–D-glucan vào lớp CR3 của bạch cầu sẽ kích thích bạch cầu tiêu diệt các tế bào khối u có lớp vỏ iC3b [Yan J. et al (1999) J Immunol.;163(6):3045-52].
Các nghiên cứu tiền lâm sàng cũng cho thấy việc sử dụng các (1,3)- β–D-glucan của men bia với các kháng thể đơn dòng chống ung thư (mAb) cũng cải thiện việc áp chế khối u cũng như tăng thời gian sống, gợi ý cho việc sử dụng sự kết hợp này trong điều trị bệnh nhân ung thư [Yan J. et al. (2005) Expert Opin Biol Ther.;5(5):691-702]. Sử dụng (1,3)- β–D-glucan nấm men với Bevacizumab làm gia tăng có ý nghĩa tác dụng của thuốc này. [Salvador C. et al (2008) Clin Caner Res.;14(4):1239-47]
(1,3)- β–D-glucan cũng được nghiên cứu sử dụng cùng với các hóa chất trị ung thư làm tăng hiệu quả điều trị [Zhong W, et al. J Immunother. 20009 Sep;32(7):703-12]. Tại Nhật Bản, dịch chiết men bia chứa chủ yếu là các β-glucan được chấp thuận sử dụng từ lâu dưới dạng tiêm truyền như là liệu pháp bổ trợ cho hóa trị ung thư. Tại Mỹ, các thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III đang được thực hiện trên những phác đồ kết hợp này.
Các β-glucan còn có hiệu quả rõ rệt trên sự phục hồi của các bệnh nhân sau xạ trị và hóa trị ung thư do giúp thúc đẩy sự phục hồi của tủy xương.
Các β-glucan còn có tác dụng hạ cholesterol trong máu do chúng kết hợp với cholesterol và các acid mật và giúp thải các chất này qua phân, ví dụ như (1,3)- β–D-glucan trong cám lúa mì [Bell S. et al. Cri.t Rev. Food. Sci. Nutr. (1999) 39,189-202; Braaten J.T. et al. Eur. J. Clin. Nutr. (1994) 48, 465-74; Davidson M.H. et al. (1991) JAMA;265,1833-9]. Trong đường tiêu hóa, các β-glucan ngăn cản sự hấp thu cholesterol từ thức ăn.
Cũng như các chất xơ tan trong nước khác, (1,3)- β–D-glucan có tác dụng làm giảm sự tăng đường huyết, đặc biệt là sau bữa ăn do chúng làm chậm lại sự làm rỗng dạ dày dẫn tới làm cho việc hấp thu glucose điều hòa hơn, làm gia tăng sản xuất IL-1α ở các đại thực bào và tăng tiết IL-2, IFNa và IL-4 ở tế bào tụy [Estrada A. et al. Mcrobiol Immunol 1997;41:991-8]. (1,3)- β–D-glucan cũng như khả năng làm tăng sự nhạy cảm với insulin của cơ quan [Braaten JT. et al. (1994) Diabet Med;11:312-8]

1.4.   Nguồn β-glucan trong thiên nhiên

Các dược liệu hay thực phẩm quan trọng chứa (1,3)- β–D-glucan là: nấm Phục linh (Poria cocos), Linh chi (Ganoderma lucidum), nấm Đông cô (Lentinus edodes), Grifola frondosa (nấm Tọa kê, nấm Múa), nấm men bia (Saccharomyces cerevisiae). Ngoài ra, còn gặp trong một số loài rong biển. Trong nấm Phục linh, hàm lượng các β-glucan có thể tới 94% dược liệu khô. Trong cám của một số loài ngũ cốc họ lúa như lúa mạch (7%), yến mạch (5%), lúa mạch đen (2%) và lúa mì (<1%) cũng có nhiều dẫn chất (1,3)- β–D-glucan.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bộ môn dược liệu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Bộ môn dược liệu (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội.
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học.
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.

Saturday, 14 January 2012

TẢO BẸ-Laminaria

TẢO BẸ
Laminaria

            Tảo bẹ thuộc ngành Tảo nâu - Phaeophyta. Một số loài được dùng trong y học: Laminaria saccharina Lam., L.japonica Aresch., họ Tảo bẹ - Laminariaceae.
Đặc diểm thực vật và phân bố
            Tảo bẹ có tản dẹt nom như lá, dài 1-15m, rộng 20-50cm, có màu nâu, có bộ phận hình trụ nom như thân và có những móc nom như rễ để bám vào đáy biển. Nói chung tất cả bờ biển của các nước đều có. Ở biển Đông chủ yếu là loài L.japonica Aresch.
            Tảo bẹ ở độ sâu 5-6m nên phải dùng cào có cán dài vớt lên phơi khô, loại sạch tạp chất rồi xay thành bột khô.
Thành phần hóa học.
            Màu nâu của tảo là do chứa fucoxanthin là một sắc tố carotenoid.
          Thành phần chủ yếu là laminaran. Laminaran có 2 dạng: một dạng hầu như không tan trong nước lạnh nhưng tan trong nước nóng và một dạng tan được trong nước lạnh. Về cấu trúc hóa học, laminaran là acid alginic (xem phần đại cương). Trong phân tử cũng có mặt của đường D-manitol với tỉ lệ khoảng 2,7% trong dạng laminaran hòa tan và 1,7% trong dạng không hòa tan.
         Thành phần của tảo bẹ còn có iod tồn tại dưới dạng iodid và dưới dạng kết hợp hữu cơ. Lượng iod tăng vào mùa hè, giảm về mùa đông và cũng giảm đi nếu để tảo ngoài trời do nước mưa hoặc nước biển hòa tan. Ngoài ra còn có các vitamin A, D... các muối kali, natri, calci (0,02-0,09%) và các thành phần vi lượng Mn, Cu, As, Co, Bo...
Công dụng
            Tảo bẹ được dùng làm chất nhuận tràng, điều hòa sự hoạt động đường dạ dày-ruột. Uống 1-2 thìa canh bột thô hòa với nước vào tối trước khi đi ngủ. Tảo bẹ có chứa nhiều loại vitamin. hợp chất có iod và các yếu tố vi lượng nên dùng rất tốt cho những người bị bướu cổ, xơ vữa động mạch, trẻ em còi xương, lao. Dược điển Đông Y Trung Quốc quy định dùng tảo bẹ L.japonica Aresch, để chữa bướu cổ, tràng nhạc... ngoài ra còn có thể dùng các loài tảo mơ - Sargassum thuộc họ tảo mơ (Sargassaceae) với công dụng như tảo bẹ. Các loài thuộc ngành tảo nâu đặc biệt các loài thuộc họ Fucaceae và Laminariaceae có giá trị kinh tế vì đây là nguồn chính để điều chế acid alginic và alginat. Hàng năm trên thế giới tiêu thụ đến hàng nghìn tấn dùng làm chất ổn định, nhũ hóa... trong nhiều ngành kinh tế khác nhau như cao su, sơn, dệt, thực phẩm, mỹ phẩm, dược phẩm.

www.duoclieu.org


TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

THẠCH-Agar-Agar

THẠCH
Agar-Agar

Nguồn gốc
            Thạch là sản phẩm chế từ một số tảo biển thuộc ngành tảo đỏ-Rhodophyta.
            Trên thế giới người ta có thể chế thạch từ các loại tảo thuộc các chi khác nhau như: Gelidium, Phyllophora, Furacellaria, Euchema, Ahnfeltia, Pterocladia...
            Ở nước ta “rau câu” là nguyên liệu quan trọng để chế thạch. Qua cuộc điều tra ven biển các tỉnh phía Bắc, chúng ta đã phát hiện 11 loài. Đáng chú ý là loài rau câu chỉ vàng - Gracilaria verrucosa (Huds.) Papenf. Ở các tỉnh phía Nam đã phát hiện 6 loài rau câu, đáng chú ý là loài rau câu rễ tre - Gelidiella acerosa (Forssk.) Feldm. et Ham.
Đặc điểm thực vật và phân bố 
Rau câu thuộc loại thực vật  sống 1 năm, màu đỏ thẫm, đỏ vàng đỏ nhạt đôi khi màu nâu tối. “ Thân” rau câu hình trụ tròn hay phiến dẹp, dài 15-50cm, có loài dài tới 1,3m hoặc hơn. Rau mọc thành từng cụm hay từng cây đơn độc, phần cuối gốc có bàn bám hình đĩa tròn để bám vào đá, vỏ sò... Rau câu chia thành nhiều nhánh, đặc tính chia nhánh là cơ sở quan trọng để xác định các loài.
            Những vùng ôn đới rau câu mọc tốt vào tháng 5, 6. Vùng nhiệt đới như nước ta thì rau câu phát triển sớm hơn. Phần lớn các loài rau câu ở nước ta sinh trưởng vào cuối mùa đông, đầu mùa xuân, tốt nhất là khoảng giữa đến cuối mùa xuân, đầu tháng 4 rau câu đã phóng bào tử, tháng 5,6 thì tàn lụi.
            Rau câu chỉ vàng gặp nhiều ở ven biển Quảng Ninh, Hải Phòng, Thanh Hoá. Chúng ta đã thành công nuôi rau câu chỉ vàng ở các đầm nước lợ để thu hoạch xuất khẩu và chế biến thạch. Rau câu rễ tre có ở Nha Trang cũng đã được nghiên cứu chế thạch.
Thu hoạch và chế biến
            Thu hoạch tảo vào những thời kỳ nhất định. Ở nước ta nên thu hoạch vào tháng 3. Hiện nay ở nhiều nước việc thu hoạch được tiến hành bằng cơ giới, có khi thu hoạch tảo do sóng đánh vào bờ. Tảo được vớt lên phơi khô, rũ sạch cát, vỏ sò rồi chuội (làm trắng) bằng cách tưới nước rồi phơi nắng, khi tưới nước thì đồng thời muối cũng bị loại. Tiếp theo là đun với nước đã acid hóa nhẹ (1 phần tảo khô, 60 phần nước) trong nhiều giờ, lọc nóng qua vải lanh, để nguội rồi cho đông lạnh. Nước trong thạch sẽ đóng thành đá, sau đó lại cho tan đá, nước chảy ra và kéo theo tạp chất. Muốn có thạch dạng sợi thì người ta nén qua khuôn thép có lỗ rồi phơi hoặc làm khô ở nhiệt độ 35O. Có loại dạng bột hoặc dạng mảnh dẹt.
Mô tả dược liệu
            Tùy theo cách chế biến mà thạch có thể ở dạng sợi, có khi các sợi này dính nhau thành phiến, hoặc dạng bột. Sợi thạch màu vàng nhạt hay không màu gần như trong suốt, thường dài 20-30cm, dày 3-8mm. Bột có màu trắng ngà, sờ ráp tay. Ở trong nước lạnh, thạch nở to, tan trong nước sôi khi để nguội sẽ đông lại.
            Thạch của ta chế chất lượng rất tốt đạt tiêu chuẩn quốc tế, được một số nước ưa thích.

Bảng so sánh thạch của ta và của Liên Xô cũ

Việt Nam
Liên Xô cũ
Độ ẩm
Tro
Đạm
Carbohydrat
Sức đông (1,5%)
18-20%
2,5-3,5%
0,2% (yếu)
50-60% (tốt)
300-500g/cm2
không quá 20%
không quá 4%
Trên 1,5%
61%
350g/cm2

Thành phần hóa học.
            Thành phần chủ yếu của thạch là chất nhầy thuộc nhóm acid thành phần có gốc sunfat (xem phần đại cương).
Kiểm nghiệm.
            Thạch không được chứa  quá 1% chất lạ hữu cơ, 0,5% tro không tan trong acid và 20% độ ẩm.
            Thạch không tan trong nước lạnh nhưng nếu đun 1g thạch và 65gam nước rồi để nguội thì tạo thành chất đông.
            Lấy 10ml dung dịch thạch 0,5%, thêm 1,5ml HCl, đun cách thủy 30 phút để thủy phân. Chia làm 2 phần: một phần thêm dung dịch bari chlorid 5% sẽ có tủa trắng vì trong thành phần cấu tạo của polysaccharid của thạch có các gốc sulfat, một phần thêm 1,5ml dung dịch natri hydroxyd 10% và 3ml thuốc thử Fehling, đun nóng sẽ có tủa màu đỏ do các nhóm -OH bán acetal được giải phóng có tính khử.
            Thạch đem đốt thành tro rồi cho tác dụng với acid hydrochloric loãng, sau đó soi kính hiển vi sẽ thấy còn sót lại khung của các loại khuê tảo và bọt biển.
            Để phát hiện giả mạo bằng cách thêm gelatin thì đun một dung dịch 0,2% gần sôi rồi thêm dung dịch tanin, không được có tủa.
            Đun sôi 100ml thạch với 100ml nước rồi để nguội, thêm dung dịch iod không được có màu xanh (tìm tinh bột).
Công dụng.
            Thạch dùng để chữa táo bón kéo dài. Khi uống vào ruột, thạch sẽ hút nước nở ra làm tăng thể tích của phân, gây điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn có ích ở ruột phát triển, vi khuẩn này đóng vai trò quan trọng trong sự co bóp của ruột già. Liều dùng 4-16g một ngày, ngoài ra thạch là nguyên liệu để chế môi trường trong khoa vi sinh, làm chất ổn định các nhũ dịch. Về mặt thực phẩm, thạch dùng làm thức ăn và đồ giải khát. Thạch còn được dùng trong kỹ nghệ dệt và giấy.
www.duoclieu.org


TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

MÃ ĐỀ- Plantago major

MÃ ĐỀ
Semen et Folium Plantaginis

            Dược liệu là hạt và lá của cây mã đề - Plantago major L., họ Mã đề - Plantaginaceae.
            Trên thế giới có các loài như: P.media L., P.lanceolata L., P.psyllium L., P.depressa Willd ... cũng được sử dụng.
Đặc điểm thực vật và phân bố.
            Cây thuộc thảo, sống dai, thân rất ngắn. Lá mọc ở gốc thành hoa thị, có cuống dài và rộng. phiến lá nguyên hình trứng dài 12 cm rộng 8cm, có 5-7 gân chính hình cung chạy dọc theo phiến rồi đồng quy ở gốc và ngọn phiến lá. Hoa mọc thành bông có cán dài, hướng thẳng đứng. Hoa đều luỡng tính, 4 lá đài xếp chéo hơi dính nhau ở gốc. Tràng màu nâu, khô xác, tồn tại, 4 thùy xen kẽ với các lá đài. Bốn nhị thò ra ngoài, chỉ nhị mảnh dài gấp tràng 2 lần. Bầu trên, 2 ô. Quả hộp, có 8-13 hạt. Vỏ ngoài của hạt hóa nhầy khi gặp nước. Mã đề mọc hoang và được trồng nhiều nơi nhất là các vùng lân cận Hà Nội.
Bộ phận dùng và chế biến.
            Nếu lấy lá thì thu hoạch từ tháng 5-7, nếu lấy hạt thì từ tháng 6-8, cắt những bông thật già phơi khô, vò sát trên sàng rồi sẩy sạch, sau đó tiếp tục phơi khô cho đến khi độ ẩm còn 10%. Hạt rất nhỏ hình bầu dục hơi dẹt dài khoảng 1mm, mặt ngoài nâu nhạt hay nâu đen. Nhìn qua kính lúp thấy mặt hạt nổi lên những vân lăn tăn, rốn lõm.
            Ở Liên Xô cũ người ta ép lá tươi, lấy dịch ép làm bốc hơi nước rồi chế viên hoàn được mang tên là “plantaglucid”.
Thành phần hóa học.
            Thành phần hóa học chính của toàn cây là chất nhầy, hàm lượng trong lá có thể đến 20%, trong hạt có thể đến 40%. Dược diển Việt Nam quy định hạt mã đề phải có chỉ số nở ít nhất là 5  .
            Các nhà nghiên cứu Nhật đã chiết xuất chất nhầy hạt P.major L. dưới dạng tinh khiết với tên “Plantasan” với hiệu suất 6,8%. Thành phần cấu tạo của Platasan gồm có D-xylose, L-arabinose, acid D-galacturonic, L-rhamnose và D-galactose theo tỉ lệ tương ứng là 15:3:4:2:0,4. Planteose là một oligosaccharid hàm lượng 1%, thủy phân bằng acid thì cho 1 galactose, 1 glucose và 1 fructose. Ngoài chất nhầy, 2 thành phần khác đáng chú ý trong cây là iridoid glycosid và flavonoid.
           
Hai chất iridoid đã được xác định là aucubosid và catalpol.

            Nhiều hợp chất flavonoid đã đuodc phân lập: apigenin, quercetin, scutellarein, baicalein, hispidulin (-5, 7, 4’ trihydroxy 6-methoxy flavon), luteolin-7-glucosid, luteolin-7-glucuronid, homoplantaginin(=7-O-b-D-glucopyranosyl -5, 4’ dihydroxy-6-methoxy flavon), nepitrin (=7-O-b-D-glucopyranosyl -5, 3’, 4’ trihydroxy-6-methoxyflavon),  7-O-a-L-rhamnopyranosyl 5, 6, 4’ trihydroxy-6-methoxyflavon; 7-O-b-D-glucopyranosyl 5, 6, 3’, 4’ tetrahydroxyflavon (để hiểu rõ công thức flavonoid, sinh viên cần xem thêm chương flavonoid ở phần sau).
            Trong mã đề còn nhiều thành phần khác đã được khảo sát: các acid hữu cơ như acid cinnamic, p-coumaric, ferulic, cafeic, chlorogenic, neochlorogenic..., carotenoid, vit.K, vit. C, một ít tanin, saponin, vết alcaloid (plantagonin, indicain), một lacton (liliolid), coumarin (esculetin)...

            Vi phẫu lá. Biểu bì trên và dưới gồm 1 lớp tế bào hình chữ nhật xếp đều đặn. Mô mềm có tế bào tròn, to, thành mỏng. Một bó libe gỗ tròn nằm giữa ứng với gân chính.
Tác dụng và công dụng.
            Những dẫn chất iridoid glycosid là thành phần có tác dụng kháng khuẩn của lá mã đề.
            Hạt mã đề (còn gọi là xa tiền tử) do có chất nhầy nên có tác dụng nhuận tràng và tăng thể tích phân. Chất nhầy tạo thành 1 lớp bảo vệ niêm mạc ruột nên cũng dùng làm thuốc chống viêm trong bệnh viêm ruột, đau dạ dày và lỵ. Ngoài ra còn có tác dụng long đờm, lợi tiểu (uống một thìa canh trước bữa cơm chiều).
            Trong y học cổ truyền lá có tác dụng thông tiểu, dùng chữa những trường hợp bí tiểu tiện, tiểu tiện ra máu, ngoài ra còn dùng để chữa ho. Lá tươi giã nhỏ dùng đắp mụn nhọt. Ở Liên Xô cũ cũng dùng lá chữa ho và trong nhân dân dùng để làm lành các vết thương và có sản xuất chế phẩm “Plantaglucid” để chữa bệnh viêm loét đường dạ dày, ruột.
Các bài thuốc theo “Dược liệu Việt Nam” (Bộ Y Tế 1972):
            Bài thuốc lợi tiểu: hạt mã đề 10 g, cam thảo 2g, nước 600ml sắc còn 200ml chia 3 lần uống trong ngày.
            Bài thuốc chữa ho tiêu đờm: mã đề 10g, cam thảo 2g, cát cánh 2g, nước 400ml sắc còn 200ml chia 3 lần uống trong ngày.

www.duoclieu.org


TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

BẠCH CẬP-Bletia striata

BẠCH CẬP
Rhizoma Bletiae

            Dược liệu là thân rễ chế biến từ cây bạch cập- Bletia striata (Thunb.) Reichb., họ Lan- Orchidaceae.
Đặc điểm thực vật và phân bố.
            Cây bạch cập thuộc loại thảo, sống nhiều năm, cao khoảng 90 cm, mọc hoang và được trồng ở những nơi đất ẩm. Lá mọc từ thân rễ lên, mỗi cây mang khoảng 3-5 lá hình mác dài 18-40cm, rộng 2,5-5cm, mặt lá có nhiều nếp nhăn dọc. Hoa nở vào mùa hạ, màu đỏ tía. Quả hình thoi có 6 cạnh, dài khoảng 3 cm, đường kính 1cm. Thân rễ phát triển thành củ có nhiều chất nhầy làm chất dự trữ cho cây. Tài liệu cho biết cây có mọc ở rừng thứ sinh Vĩnh Phú.
Bộ phận dùng và chế biến
            Thân rễ hóa thành củ, thu hoạch ở những cây 2-3 tuổi, bỏ vẩy và rễ con, rửa sạch, sấy nhỏ lửa đến khô. Sau khi chế biến, dược liệu là những khối như sừng vị đắng và nhớt. Khi dùng đem ủ mềm, thái lát, sấy nhẹ cho khô, nếu cần thì tán thành bột.
Đặc điểm bột. Bột bạch cập soi dưới kính hiển vi thấy có tế bào biểu bì có thành vòng vèo, mô mềm có calci oxalat hình kim.
Thành phần hóa học.
            Chất nhầy là chủ yếu, chiếm khoảng 55% và thuộc loại glucomannan.
Tác dụng và công dụng.
            Bạch cập có tác dụng chống loét dạ dày trên chuột cống thí nghiệm.
            Trong y học dân tộc cổ truyền dùng làm thuốc cầm máu trong các trường hợp ho ra máu, loét dạ dày ra máu, lỵ có máu, trĩ. Dùng dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột, mỗi ngày 15g. Dùng ngoài phối hợp với thạch cao để chữa mụn nhọt, các vết thương, vết loét. Bạch cập hòa với dầu vừng để chữa bỏng.

www.duoclieu.org


TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

SÂM BỐ CHÍNH-Abelmoschus sagittifolius

SÂM BỐ CHÍNH
Radix Hibisci sagittifolii

            Dược liệu là rễ củ của cây sâm bố chính – Abelmoschus sagittifolius (Kurz.) Merr. họ Bông - Malvaceae.
Đặc điểm thực vật và phân bố.
Cây thuộc thảo cao 0,5-1 m, sống nhiều năm, mọc đứng yếu ớt. Thân có lông. Lá mọc so le thường chia thành 5 thùy, thùy giữa dài và nhọn, gân lá hình chân vịt, gân mặt trên gần cuống có màu tía. Lá kèm hình sợi. Hoa mọc riêng lẻ ở kẽ lá, 5 cánh màu hồng, đài phụ
gồm 7-10 bộ phận, đài hoa sớm rụng, Nhiều nhị dính liền nhau thành một ống, bầu có lông, vòi có 5 núm nhụy. Quả hình trứng nhọn, mặt ngoài có lông. Hạt hình thận màu nâu. Sâm bố chính được trồng ở nhiều nơi nước ta, gieo hạt vào tháng 2-3, cây ưa ánh sáng. Cần phân biệt với sâm báo, mọc ở núi Báo (Thanh Hóa) có hoa màu vàng cây nhỏ hơn.
Bộ phận dùng và chế biến
Rễ hình trụ thót dần về phía dưới dài 10-20 cm, đường kính 0,5-2,5 cm. Nhiều khi gặp những củ có phân nhánh và nom giống hình người. Người ta thu hoạch vào tháng 11-12 hoặc 1-2, cắt bỏ rễ con, rửa sạch, phơi khô hay cạo vỏ, đồ chín rồi làm khô. Vết bẻ có màu trắng, có nhiều bột, không có xơ, vị nhạt, nhầy dính khi tiếp xúc với nước.
Vi phẫu. Lớp bần gồm 2-3 hàng tế bào, lớp bần này không thấy ở rễ đã cạo vỏ. Mô mềm vỏ chứa nhiều hạt tinh bột. Rải rác trong mô mềm có các tinh thể calci oxalat hình cầu gai và các túi chứa chất nhầy. Liber hình nón trong có các đám sợi. Tia ruột gồm 2-3 hàng tế bào loe thành hình phễu về phía liber và chứa nhiều tinh bột. Gỗ chạy vào tận ruột.
Bột. Bột có màu trắng ngà, soi kính hiển vi thấy nhiều hạt tinh bột riêng lẻ, hình cầu hoặc nửa cầu, kích thước 10-30mm có nhiều hạt kép 2-3, có sợi liber rộng khoảng 20mm, các mảnh mạch mạng và mạch chấm, tinh thể calci oxalat hình cầu gai, mảnh mô mềm gồm tế bào chứa tinh bột.
Thành phần hóa học
            Chất nhầy khoảng-40%, nhiều tinh bột. Các thành phần khác chưa được nghiên cứu.
Công dụng.
            Ở nước ta nhân dân dùng sâm bố chính để làm thốc bổ, thuốc chữa ho. Ngày dùng 16-20g hoặc có thể đến 40g. Sâm bố chính đã được ghi vào dược điển Việt Nam.

www.duoclieu.org


TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

GÔM ADRAGANT-Gummi Tragacanthae

GÔM ADRAGANT
Gummi Tragacanthae

            Gôm adragant do một số cây thuộc chi Astragalus, họ Đậu - Fabaceae cung cấp (chi này có đến 1000 loài). Loài chủ yếu cung cấp gôm này là cây Astragalus gummifer Labill. Các loài khác như A.verus Oliver A.piletocladus Fr. et Sint. cũng cho gôm.
Đặc điểm thực vật và phân bố.
            Cây Astragalus gummifer Labill. là cây bụi nhỏ. Cây chậm lớn, chỉ tăng khoảng 1 cm chiều cao mỗi năm và đến năm thứ 60-75 cũng chỉ cao khoảmg 1 m. Lá kép lông chim chẵn, có lá kèm nhọn. khi lá chét rụng, các cuống lá kép còn lại tạo thành những gai nhọn. Hoa hình bướm màu vàng nhạt mọc thành chùm ở nách những lá phía dưới. Quả loại đậu, có lông, chỉ chứa 1 hạt, không mở. Các cây Astragalus thường mọc ở độ cao từ 1000 - 3000m.
            Những nơi cung cấp gôm: Xiri, Iran, Irac, Hy Lạp. Liên xô cũ trước đây phải nhập của Iran, nay cũng đã tự túc được và khai thác ở vùng Turmeni và Armeni.
            Sự tạo thành gôm và thu hoạch. Gôm được tạo thành do sự biến đổi của thành tế bào tia ruột và ruột. Gôm bị ép bên trong thân cây nên khi có lỗ sâu đục hoặc vết rạch sâu thì chảy ra. Hai ngày sau khi rạch thì thu hoạch gôm.
Mô tả dược liệu.
            Tùy theo dụng cụ rạch mà gôm có hình dạng khác nhau, thường là những phiến cong có vân đồng tâm dài có thể đến 5-6cm, rộng 2cm. Gôm có màu trắng nhờ, đục như sừng. Khác với gôm arabic gôm adragant nở ra trong nước và chỉ tan một phần.
Thành phần hóa học.
Thành phần polysaccharid là chính, polysaccharid này lại chia làm 2 loại:
1.      Acid tragacanthic còn gọi là tragacanthin là thành phần tan trong nước chiếm khoảng 10%, ở dạng cuối Ca, K và Mg trong cây. Polysaccharid này cấu tạo có một mạch chính là các a-D-galacturonic theo dây nối (1®4) đôi khi có L-rhamnose xen vào, còn mạch nhánh nối ở C-3 gồm có D-xylose, 2-O-a-galactopyranosyl-D-xylopyranose và 2-O-a-D-galactopyranosyl-D-xylopyran-ose.
2.      Arabinogalactan hay còn gọi là bassorin chiếm 60-70%, là một polysaccharid trung tính, không tan trong nước mà chỉ nở ra tạo thành thể keo, phân tử phân nhánh nhiều, gồm mạch chính là các D-galactose nối theo dây nối (1®6) và (1®2), mạch nhánh là các L-arabinose nối theo dây nối (1®2), (2®3), (1®5).
            Khác với gôm arabic trong thành phần adragant có tinh bột và không có oxydase. Những chất vô cơ chiếm 3-4%.
Kiểm nghiệm
            Không phản ứng với cồn gaic hoặc với benzidin (để phân biệt với gôm arabic).
            Không được có mùi acetic (để phân biệt với gôm Sterculia).
            Chỉ số nở: thực hiện với 0,5g trong một hỗn hợp cồn nước 4:6 phải trên 10.
            Khác với gôm arabic, gôm adragant không hoàn toàn tan trong nước. Nó chỉ cho với nước một dịch nhầy đục và sánh hơn.
Công dụng.
Làm chất nhũ hóa tốt hơn gôm arabic, ngoài ra còn dùng làm tá dược dính trong các dạng thuốc viên, chất làm dịu khi đau họng.
 

www.duoclieu.org


TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

GÔM ARABIC-Gummi Arabicum

GÔM ARABIC
Gummi Arabicum

            Gôm arabic là chất tiết ra và để khô từ thân và cành của cây Acacia verek Guill và Perr. (= Acacia senegal (L.) Willd.), họ Trinh Nữ - Minosaceae.
Đặc điểm thực vật và phân bo
Thuộc loại cây nhỡ cao 4-5 m có gai ngắn và cong. Lá kép 2 lần, lông chim, cụm hoa mọc ở nách lá, tràng hoa màu trắng, quả loại đậu thẳng, dẹt, hơi thắt ở khoảng giữa các hạt.
            Nơi cung cấp chính trên thị trường thế giới là Xu Đăng, khoảng 40.000 tấn một năm, sau đó đến các vùng Tây và Nam sa mạc Xahara như Moritani, Mali, Xênêgan, Sát rồi đến Nigiêria.
Cách thu hoạch gôm. Người ta thu hoạch gôm ở những cây từ 3 tuổi trở lên, hiệu suất cao ở những cây 5-7 tuổi. Thu hoạch vào mùa khô khi cây đã rụng lá. Gôm tiết ra từ những kẽ nứt tự nhiên, nhưng thường ngưòi ta đẽo vỏ thành từng băng (5 x 50cm) để gôm chảy ra được nhiều. Gôm chảy ra, khô dần, vài ba tuần sau khi bóc vỏ thì bắt đầu lấy gôm, lúc này phần giữa cục gôm vẫn chưa rắn hẳn, qua phơi nắng hoặc qua quá trình chuyên chở gôm mới rắn hoàn toàn. Mỗi cây (5-7 tuổi) cho 500 - 800 gam gôm.
Mô tả dược liệu
            Dạng cục tròn không đều, rắn, đường kính trung bình khoảng 2-3 cm màu vàng hay màu nâu, khi khô thì có thể đập vỡ được như thủy tinh, mặt vỡ nhẵn bóng. Các cục nguyên thường có một khoảng rộng ở giữa do quá trình khô tạo ra. Gôm tan trong nước tạo thành dung dịch keo, dính và có độ quay cực.
Thành phần hóa học.
            Thành phần chính là polysaccharid thuộc nhóm acid có acid uronic (xem phần đại cương). Muốn định tính acid uronic có thể thực hiện như sau: đun gôm với naphtoresorcinol và acid HCl 1/2 trong vài phút, có tủa nâu tan trong benzen có màu tím. Phần polysaccharid có thể tinh chế bằng cách hòa tan gôm trong dung dịch HCl 0,1N rồi kết tủa bằng cồn, làm nhiều lần như vậy rồi cuối cùng điện thẩm tích. Công thức của gôm arabic là một polysaccharid phân nhánh nhiều.
            Ngoài ra trong gôm còn có 3-4% chất vô cơ (Ca, Mg, K) các enzym như oxydase, emulsin.
Kiểm nghiệm.
            5g gôm trong 10g nước, để yên trong 15-20 giờ phải tan hoàn toàn cho một dung dịch sánh và acid với giấy quỳ.
            Dung dịch gôm 2% đun sôi để nguội, thêm 1 ml dung dịch chì acetat kiềm, có tủa trắng nhưng không tủa bởi dung dịch chì acetat trung tính (khác với gôm adragant).
            Hòa tan 0,25g gôm trong 5 ml nước, thêm 0,5 ml nước oxy già loãng và 0,5ml dung dịch benzidin 1% trong cồn, lắc và để yên, sẽ có màu xanh do có mặt của oxydase hoặc dùng cồn gaic thì cũng có màu xanh xuất hiện.
            Dung dịch gôm 10% trong nước thì hơi quay trái, các loại gôm của các loài Acacia khác thì quay phải mặt phẳng ánh sáng phân cực.
            Không được có phản ứng của tanin và tinh bột.
            Độ ẩm không quá 15%.
            Độ tro toàn phần không quá 5%
            Trong bào chế khoa, gôm arabic được dùng:
            Bào chế các nhũ dịch và hỗn dịch.
            Bào chế các viên nén làm chất dính và chất làm rã (vì có khả năng nở ra trong nước).
            Bao viên, để cho các chất bao dính vào viên.
            Bào chế các thuốc phiến, viên tròn, potio, một số kem bôi da.
            Gôm arabic làm dịu tại chỗ nơi bị viêm như viêm họng viêm dạ dày.
            Gôm arabic còn được dùng trong kỹ nghệ thực phẩm keo dán.
            Chú ý rằng thành phần của gôm có calci nên cần tránh những chất có tương kỵ. Trong gôm còn có enzym oxydase nên có thể tạo thành các sản phẩm có màu với aminopyrin, antipyrin, cresol, gaiacol, phenol, tanin thymol, vanillin và một số chất khác. Một số alcaloid cũng bị ảnh hưởng: atropin, apomorphin, cocain, homatropin, hyoscyamin, morphin, physostigmin và scopolamin. Nếu đun dung dịch gôm vài phút ở 100o thì oxydase bị hủy và tránh được sự tương kỵ.

www.duoclieu.org


TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

BÔNG-Gossypium

BÔNG
Gossypium

            Cây bông thuộc  chi Gossypium; họ bông - Malvaceae. Bông  có nhiều thứ do lai tạo từ  4 loài chính:
G. herbaceum L.
G. arboreum L.
G. barbadense L.
G. hirsutum L.
Hai loài trên thuộc nguồn gốc châu Á.
Hai loài  dưới   thuộc nguồn gốc châu Mỹ.
Đặc điểm thực vật và phân bố
            Bông thuộc loại cây nhỡ cao 1-3m, cây mọc hàng năm hoặc nhiều năm. Lá mọc so le có cuống dài, phiến lá thường chia làm 5 thuỳ, gân lá  hình chân vịt. Hoa  mọc ở nách lá. Đài hoa dính  liền, có một  đài  con gồm các lá hình tim có răng. Tràng tiền khai  vặn, có 5 cánh hoa có màu sắc thay đổi: vàng, hồng, tía. Nhị nhiều, dính nhau thành ống. Quả nang hình  trứng nhọn về phía trên. Có 3 -5 ô, mỗi ô có 5-7 hạt. Hạt hình trứng, bao bọc bởi sợi bông màu trắng. Cũng có loài bông có sợi màu vàng, vàng cam. Ở  Liên Xô cũ, người ta đã tạo được loài bông màu xanh, màu nâu ở quy mô thí nghiệm.
            Loài người  đã biết trồng bông 3000 năm T.C.N. Bông trồng vào tháng 1-2 và sau 5-6 tháng thì  thu hoạch. Hàng năm thế giới sản xuất trên 10 triệu tấn. Các nước sản xuất nhiều bông là Ấn Độ, Ai Cập. Nước ta đã hình thành một số vùng chuyên canh bông như Daklak, Ninh Thuận, Đồng Nai, Sông Bé, Tây Ninh, Phú Khánh. Một hecta đã trồng màu có thể trồng xen khoảng 35.000 cây bông. Công ty bông  Việt Nam đang nghiên cứu giống Bioseed 7 của Ấn Độ và một  số giống bông khác cho năng suất cao hơn gấp 2-3 lần  giống bông trước đây. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã phê duyệt dự án đến năm 2000 sẽ đưa diện tích  trồng bông lên 100.000 hecta  với sản lượng 74.000 tấn bông xơ/năm. Vào năm 2020 diện tích sẽ tăng lên 180.000 hecta để có thể đạt sản lượng 170.000  tấn bông xơ/năm.
Bộ phận dùng và công dụng
Sợi bông. Sợi bông là lớp bông bên ngoài của vỏ hạt. Mỗi hạt mang từ  5.000 đến  10.000 bông. Lông đơn bào  rất dài: 1-5cm. Sợi dài chắc  và loại tốt. Sợi dưới 25mm là  loại ngắn, từ 25-30mm là loại trung bình, từ 30-50mm là loại dài. Soi dưới kính hiển vi sẽ thấy  sợi bông rỗng ở giữa tạo thành mao quản  do  đó sợi bông có tính hút nước nhưng với điều kiện là phải tẩy sạch chất béo của thành tế bào lông. Sợi bông dẹt nhọn ở đầu và thỉnh thoang có đoạn bị vặn xoắn. Nếu đặt sợi bông trong một dung dịch đồng oxyd trong ammoniac sẽ thấy sợi bông nở ra từng khúc rồi dần dần bị tan đi  và chỉ còn lại phần cutin. Sợi bông nhuộm màu hồng tím với dung dịch  kẽm  chloroiodid. Thấm ẩm với dung dịch  với dung dịch iod N/50, để gần khô thêm acid sulfuric 80% sẽ có màu xanh. Thành phần chủ yếu của sợi bông là cellulose (chiếm đến 98%) kèm theo khoảng 1% chất vô cơ, một ít pectin, protein, chất béo.
Trong y học bông được  chia làm 2 loại: bông xơ và bông hút  nước.
            Bông xơ là  bông tự nhiên đã được cán để  loại hạt hay nhặt sạch tạp chất, bật thành lớp  đều và không chế biến gì thêm. Loại này  không hút nước, dùng làm êm khi băng bó, dùng làm nút các ống, các bình đựng môi trường nuôi cấy vi khuẩn, nấm mốc.
            Bông hút nước là bông đã loại  hết chất béo rồi tẩy trắng phơi khô, bật thành lớp. Bông hút nước dùng để băng bó các vết  thương, dệt gạc. Bông hút  nước phải đạt tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam về: tốc độ hút nước, giới hạn chất tan trong nước, acid-kiềm, chlorid, sulfat, calci, chất béo, chất màu, độ  ẩm, độ tro.
Hạt bông.  Cho đến đầu thế kỷ XIX người ta chỉ lấy sợi bông, còn hạt thì bỏ đi. Ngày nay hạt được sử dụng để ép lấy dầu với tỉ lệ khoảng 15%. Dầu thuộc loại nửa khô, thành phần có những acyl glycerol của các acid béo chưa no: acid oleic 40-50%, linoleic 25-30% và  các acdi béo no: acid palmitic, stearic 20-30%.
Trong công nhiệp, dầu bông dùng làm xà phòng và để pha sơn. Khô dầu chứa nhiều protein (50%) trong đó có đủ các amino acid cần thiết. Trong khô dầu còn có các sắc tố: flavonoid (glycosid của quercetol và kaemferol)  và đặc biệt có một sắc tố màu đỏ cam là gossypol (1% của nhân). Chất gossypol có công thức : 2,2 bis 1,6,7, trihydroxy, 3 methyl 5-isopropyl, 8-aldehydonapthyl, có  trục bất đối xứng có thể phân   thành 2 đồng phân (+)gossypol và (–)gossypol, không tan  trong nước, tan trong ether và chloroform, dễ bị nhiệt phâ huỷ nên dễ bị loại ra khỏi dầu và khô dầu. Gossypol có độc tính với tế bào, nó kết hợp với nhóm amin của lysin trong cấu trúc protein. Thí nghiệm trên súc vật đực, người ta thấy gossypol làm giảm số lượng tinh trùng đáng kể, làm giảm lượng testosteron. Trên súc vật cái cũng có tác dụng chống thụ tinh. Cũng thí nghiệm trên súc vật, thấy rằng (+)gossypol ít tác dụng nên người ta cho rằng (–)gossypol có lẽ có tác dụng tốt hơn đồng phân racemic mà người ta đã dùng trong các thí nghiệm trước đây. Ở Trung Quốc đã có thử nghiệm trên hàng ngàn người tình nguyện  thấy sau 2 tháng dùng gossypol thì lượng  tinh trùng giảm rõ rệt nhưng có  xuất hiện nhiều dạng bất thường. Việc dùng gossypol để  hạn chế sinh đẻ còn phải được nghiên cứu  nhiều vấn đề như cơ chế tác dụng, nguy cơ sinh quái thai, tác dụng phụ. Các nhà nghiên cứu Liên Xô cũ thấy gossypol có tác dụng ức chế khối u.
            Gần đây  người ta đã  tạo ra được giống bông không có gossypol.

 gossypol.

Lá bông. Lá  bông chứa 5-7% acid citric, 3-4% acid malic và một số acid khác như ascorbic, lactic, pyruvic, formic. Có thể dùng làm nguyên liệu để chiết acid citric. Trong lá  còn có: riboflavin, inositol, carotenoid, acid nicotinic.
Vỏ rễ. Vỏ rễ  có chứa gossypol (1-2%), cây lâu năm thì lượng gossypol càng nhiều, vit.E, các catechin và một chất gây co mạch và có  tác dụng thúc đẻ nhưng chưa phân lập được. Trước đây người ta có dùng vỏ rễ để làm thuốc điều  kinh dưới dạng thuốc sắc.
Hoa. Hoa là nguồn chứa nhiều flavonoid. Có loài hàm lượng flavonoid lên đến 4,5%.  
Gossypium barbadense: Qu-3-sophorosid, Qu-7-glucosid, Qu-3-glucosid, Qu và Km-3-rutinosid, Km-3-galactosid, Gossypetin-7-glucosid.
G.herbaceum: Qu và Km-7-glucosid, Qu-3-glucosid, Gossypetin-7-glucosid.
G. Spp:Qu-3'-glucosid.
Ghi chú: Qu= Quercetin, Km=Kaempferol.


www.duoclieu.org


TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật