Showing posts with label Dioscoreaceae. Show all posts
Showing posts with label Dioscoreaceae. Show all posts

Tuesday, 11 February 2014

CỦ TỪ NƯỚC

CỦ TỪ NƯỚC

Tên khác: Củ từ nước
Tên khoa học: Dioscorea pierrei Prain et Burk., thuộc họ Củ nâu (Dioscoreaceae).
Mô tả: Củ đơn độc, rất dài, tới 1,5m với đường kính 7-8cm. Thân hình trụ, phủ lông nhiều màu đỏ nâu. Lá có 3-5 lá chét, có lông mềm dày ở mặt dưới, có ít lông ở mặt trên, có lá chét giữa dài tới 25cm và rộng tới 11cm. Quả nang rũ xuống, có lông mềm, với cánh rộng 3mm ở gốc và nở rộng đầu tới 7mm ở đoạn giữa, dài 22mm.
Bộ phận dùng: Củ (Rhizoma Dioscoreae Pierrei).
Nơi sống và thu hái:Khá phổ biến ở nước ta, trong các vùng thấp ở Nam vĩ tuyến 15. Còn phân bố ở Thái Lan.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Củ ăn được và là nguồn lương thực quan trọng trong khi giáp hạt.



CỦ TỪ

CỦ TỪ

Tên khác: Củ từ, Khoai từ, Khoai bướu
Tên khoa học:Discorea esculenta (Lour.) Burk., thuộc họ Củ nâu (Diosoreaceae).
Mô tả: Cây thảo có củ mọc thành chùm hình cầu, dạng trứng hay có thuỳ, nhẵn hay có gai (ở một số thứ mọc hoang), có rễ cứng và biến thành gai. Củ có vỏ mỏng, trong có chất bột dính, màu ngà. Thân tròn mảnh, có gai nhỏ ở gốc, to và cong về phía trên. Lá đơn, mọc so le, nhọn hay có mũi, dài và rộng khoảng 8cm; gân 9-13; phiến lá mềm có lông mi hoặc có khi nhẵn, mép nguyên. Cụm hoa dạng bông mang những hoa đơn tính; cụm hoa đực dài đến 20cm, cụm hoa cái mang rất ít hoa. Quả nang cong xuống, có cánh rộng đến 12mm; hạt cũng có cánh.
Bộ phận dùng: Củ (Rhizoma Dioscoreae Esculentae).
Phân bố và thu hái:Cây được trồng khắp nông thôn nước ta và nhiều nước nhiệt đới khác lấy củ ăn. Do trồng trọt lâu đời mà người ta tạo được những giống không gai và không trồng bằng hạt nữa. Ta thường trồng 2 giống: giống có vỏ mỏng và dây hơi đỏ, củ ăn ngon và giống có vỏ dày, dây trắng.
Thành phần hoá học:Củ từ chứa nước 70,5%, protid 14%, lipid 0,1%, glucid 26,1%, cellulose 1,1%, chất khoáng 0,6%. Củ chứa sapogenin.
Tính vị, tác dụng:Củ từ to bằng củ khoai tây trung bình, có vỏ ngoài bong ra, tróc thành khoanh vàng đều. Thịt trắng, ngon hơn và không có vị nhạt và nhầy như khoai vạc. Củ từ có vị ngọt, the, tính hàn, nếu dùng sống thì hơi độc.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Dùng nấu ăn thì ngọt ngon, không độc, bổ trường vị, dùng thay lương thực, khỏi đói. Người hư nhiệt ăn thì khỏi bệnh. Củ từ cũng có khả năng giải các loại thuốc độc; giã sống vắt lấy nước uống thì nôn ra hết chất độc mà khỏi. Thường dùng làm thuốc tiêu độc, tiêu ứ huyết, trị ho, khô cổ họng. Còn dùng nấu nước uống chữa tê thấp, các bệnh về thận, làm cho nước tiểu tốt hơn, và dùng chữa phù. Ở Ấn Độ, người ta dùng củ từ mài ra đắp trị sưng tấy.



CỦ TRÂU

CỦ TRÂU

Tên khác: Củ trâu, Sú vằn, Từ năm lá
Tên khoa học: Dioscorea pentaphylla L., thuộc họ Củ nâu (Dioscoreaceae).
Mô tả: Củ đơn, rất thay đổi về hình dạng và cấu trúc của thịt. Thân lớn, hình trụ, màu đỏ hay trắng xỉn, có lông và có gai. Lá do 3-5 lá chét, xếp thành hình chân vịt có lông ở mặt dưới. Cụm hoa đực to, không lá, gồm những chùm dạng bông, trục hoa có lông. Hoa cái mọc thành bông cong, thòng xuống. Quả nang gập lại, có cuống, gốc hơi hình tim, có cánh dài 2cm. Hạt có cánh nâu xỉn. Ra hoa vào mùa hè.
Bộ phận dùng: Củ (Rhizoma Dioscoreae Pentaphyllae).
Phân bố và thu hái: Loài cổ nhiệt đới, mọc dại ở các tỉnh phía Nam (Đồng Nai, Sông Bé...) trên đất ẩm lầy và các đồi bãi hoang. Từ Ấn Độ, Củ trâu được đem trồng ở các xứ nhiệt đới châu Á và Châu Đại dương. Thu hoạch củ quanh năm.
Thành phần hoá học:Cũng như các loài Discorea khác, Củ trâu chứa steroid sapogenin và có vết của saponin.
Tính vị, tác dụng:Củ có vị gây buồn nôn; có tác dụng bổ cốt tráng dương.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Sau khi nấu kỹ với tro gỗ có thể ăn được. Nếu chế biến kỹ và dùng ngâm rượu, có tác dụng bổ máu, mạnh gân xương, chữa đau lưng. Ở Ấn Độ, củ dùng làm tan sưng và trị ho.


CỦ NÊM

CỦ NÊM

Tên khác: Củ nêm, Từ tam giác
Tên khoa học: Dioscorea deltoidea Wall. ex Kunth, thuộc họ Củ nâu (Dioscoreaceae).
Mô tả: Thân rễ (củ) nằm gần như lộ thiên, phân nhánh, có thịt trắng và dịu. Thân gần như nhẵn, hơi có cạnh. Lá đơn mọc so le, có cuống khá dài, có tai, thường thu hẹp ở phía giữa, tạo thành 2 cái tai hai bên, có mũi nhọn, nhẵn ở mặt trên, phủ lông cứng và dài ở mặt dưới, thường dài 6cm nhưng có thể có kích thước lớn hơn. Quả nang rủ xuống, có cánh nở rộng dần từ gốc tới đỉnh, rộng 14mm, dài 20mm.
Bộ phận dùng: Củ (Rhizoma Dioscoreae Deltoideae).
Phân bố và thu hái: Cây mọc trong rừng thưa, vùng Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Còn phân bố ở Ấn Độ, Trung Quốc.
Thành phần hoá học:Củ nêm chứa diosgenin (4,8%), steroid sapogenin, epi-smilagenin và smilagenin.
Tính vị, tác dụng:Cây có độc.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Ở Ấn Độ, người ta dùng củ để làm thuốc diệt rận và duốc cá.

CỦ NÂU

CỦ NÂU

Tên khác: Củ nâu
Tên khoa học: Dioscorea cirrhosa Lour., thuộc họ Củ nâu (Dioscoreaceae).
Mô tả: Dây leo, thân tròn, nhẵn, có nhiều gai ở gốc, có 1-2 củ mọc từ một mấu ở gốc thân, trên mặt đất, hình tròn, vỏ sần sùi, màu xám nâu, thịt đỏ hay hơi trắng. Lá đơn, hình tim dài độ 20cm, mọc so le ở gần ngọn. Hoa mọc thành bông. Quả nang có cuống thẳng, có cạnh. Hạt có cánh xung quanh.
Bộ phận dùng: Củ (Rhizoma Dioscoreae Cirrhosae), thường có tên là Thự lương.
Phân bố và thu hái:Cây mọc hoang ở vùng rừng núi của nước ta, nhiều nhất ở các tỉnh Lào Cai, Quảng Ninh, Hà Tây, Thanh hoá, Nghệ An. Có khi được trồng. Là cây thường dùng để nhuộm vải lưới cho có màu nâu bền. Cũng dùng để thuộc da. Củ thường được bán ở các chợ nông thôn và thành phố. Tuỳ theo màu sắc của nhựa, màu đỏ nhạt, màu xám nhạt, màu vàng nhạt hay hơi hồng, mà người ta gọi tên Củ nâu dọc đỏ, củ nâu dọc trai và củ nâu trắng. Củ nâu dọc trai dùng nhuộm tốt hơn.
Thành phần hoá học: Củ chứa nhiều tanin catechic (đến 6,4%) và có tinh bột.
Tính vị, tác dụng:Củ nâu có vị ngọt, chua và se, tính bình, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, sát trùng, cầm máu, hoạt huyết, cầm ỉa.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Ngoài việc dùng để nhuộm. Củ nâu có thể dùng ăn. Người ta gọt bỏ vỏ ngoài đem ngâm dưới suối nước chảy nhiều ngày đêm cho hết chất chát, mới có thể dùng luộc ăn. Củ nâu được dùng làm thuốc chữa các chứng tích tụ hòn báng, xích bạch đới, băng huyết, ỉa chảy và lỵ. Ở Trung Quốc, Củ nâu dùng chữa: 1. Chảy máu tử cung, xuất huyết trước khi sinh; 2. Ho ra máu, thổ huyết, ỉa ra máu, đái ra máu; 3. Viêm ruột, lỵ; 4. Thấp khớp tạng khớp, liệt nhẹ nửa người. Dùng ngoài trị bỏng, đòn ngã tổn thương, đinh nhọt và viêm mủ da, bị thương chảy máu. Liều dùng 10-15g, dạng thuốc sắc; bên ngoài nghiền củ để đắp.
Bài thuốc:
1. Chữa phụ nữ tích huyết thành hòn cục; lấy bã Củ nâu (sau khi đã mài với nước vắt lấy nước cốt để nhuộm) sấy khô tán bột uống 8g, ngày 2-3 lần. Hoặc dùng 20g bã Củ nâu sắc uống.
2. Chữa bị thương gãy xương; dùng Củ nâu giã nhỏ để bó và băng nẹp lại, sau khi đã sửa xương lại như cũ.
3. Chữa đi lỵ ra máu mũi; dùng bã Củ nâu đốt tồn tính, tán nhỏ, uống với nước cơm, mỗi lần 3g, ngày uống 3-4 lần.
4. Liệt nửa người; dùng 60g củ ngâm trong 500ml rượu trắng trong 5 ngày, lấy nước chiết uống, ngày dùng 15-30ml trước khi ngủ.

CỦ NẦN

CỦ NẦN

Tên khác: Củ nần, Củ nê, Dây nần, Củ nâu trắng
Tên khoa học: Dioscorea hispida Dennst. (D. triphylla var. reticulata Prain et Burk.), thuộc họ Củ nâu (Dioscoreaceae).
Mô tả: Củ khi còn non có hình cầu nhưng rồi biến đổi, có thuỳ và khi già, củ có thể kép. Thân khoẻ, có thể leo cao tới 30m, có lông mềm với các lông màu vàng nhạt hoặc nhẵn hình trụ, thường có gai nhiều. Lá có 3 lá chét có lông nhẵn trông giống như lá cây củ đậu, lá chét giữa hơi lớn hơn, dài 16cm, rộng 10cm. Cụm hoa to, dài tới 50cm; bông đực dày nhiều nhánh; bông cái thòng. Quả nang dày lông vàng, có cánh rộng ở phía giữa tới 16mm; quả dài tới 55mm, thót lại về phía trên thành một mũi nhọn tù hay tròn. Hạt to, dài 10mm, rộng 6mm, với một cánh lớn màu vàng nâu. Ra hoa vào cuối tháng 3.
Bộ phận dùng: Củ (Rhizoma Dioscoreae Hispidae).
Phân bố và thu hái:Cây của vùng Ấn Độ - Malaixia, mọc hoang trên các nương rẫy hoang, rừng còi đồng bằng, có nhiều ở các tỉnh phía Nam từ Quảng Trị trở vào; còn ở phía Bắc có gặp ở Bắc Thái, Lạng Sơn. Lá rụng vào mùa khô, mọc lại vào tháng 3-4. Củ nần chỉ dùng sau khi đã loại bỏ các chất độc, cắt ra nhiều khoanh nhỏ ngâm trong nước lã khoảng 3 đến 4 ngày, người ta loại bỏ nước ngâm, rửa sạch nhiều lần bằng nước sạch rồi đem phơi khô ngoài nắng. Khi nấu cũng cần đun sôi để loại bỏ thêm chất độc còn sót lại. Củ nần đã được chế biến cẩn thận dùng làm bánh ăn, nấu xôi ăn trong lúc thiếu lương thực, trong lúc giáp hạt. Ở Philippin người ta cũng dùng Củ nần để ăn. Nói chung củ có độc nhiều, khi dùng làm thuốc uống cũng phải chế biến cẩn thận, nếu không sẽ bị ngộ độc.
Thành phần hoá học:Trong củ, cũng như trong lá cây. Củ nần có 2 alcaloid độc là dioscorin và dioscorein. Dioscorin là một loại chất độc mạnh mà 10mg có thể giết chết một con ngựa. Còn dioscorein là một chất bay hơi và tương đối ít độc hơn. Ở Ấn Độ, người ta đã xác định là có các steroid sapogenin có những vết saponin và cả alcaloid dioscorin và những oxo-base của nó do sự thoái biến. Trong củ có lượng nước ít, nhiều bột, tỷ lệ các hydrat carbon lên tới 76%.
Tính vị, tác dụng:Dioscorin là một alcaloid kết tinh, gây co giật và làm tê liệt trung khu thần kinh. Nhân của chất này thuộc loại quinuclidic được kết một dãy lactonic không trung hoà. Cây có vị ngọt sáp, tính mát, có độc, có tác dụng giải nhiệt, tiêu độc, tiêu sưng, giảm đau, khử ứ, cầm máu. Củ có độc đối với nhiều loại vi khuẩn, côn trùng và động vật, nhưng không có hiệu quả đối với đỉa.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Củ giã đắp trị nhọt độc, sâu quảng, đòn ngã bị thương. Ở Malaixia, người ta dùng nước sắc của thân rễ để uống làm thuốc lợi tiểu hay thấp khớp mạn tính. Ở Campuchia, người ta sử dụng củ ăn sống kịp thời ngay sau lúc bị rắn hổ mang cắn để ngăn ngừa những biến chứng gây rối loạn trong cơ thể. Ở nhiều vùng của Philippin, Củ nần còn được dùng chữa dịch hạch, phong thấp cấp tính. Người ta nghiền củ thành bột, có thể dùng riêng hoặc phối hợp với dầu Dừa, lá Thuốc lá, lá Cà độc dược hoặc quả Ớt để trị bệnh lở loét ngoài da có giòi của gia súc.
Ở Malaixia cũng như ở Ấn Độ, người ta dùng củ chế thuốc độc, thường phối hợp với nhựa cây Sui (Antiaris toxicaria) để tăng thêm sức mạnh. Để làm thuốc độc tẩm các mũi tên, người ta xắt củ, xát và nghiền nát ra rồi cho vào túi vải, lọc lấy nước; chất dịch này được đem phơi nắng cho đậm đặc lại rồi trộn với nhựa cây sui theo tỷ lệ 1/2.
Ghi chú: Củ nần rất độc, một lát xắt củ to bằng quả táo tây đủ để làm chết một người lớn trong 6 giờ. Triệu chứng của sự ngộ độc là bắt đầu ngứa trong cổ họng kèm theo nóng rát, rồi choáng váng, nôn ra máu, nghẹt thở và buồn ngủ.


CỦ MÀI GỪNG

CỦ MÀI GỪNG

Tên khác: Cù mài gừng, Củ mài lá khiên, Từ tam giác
Tên khoa học: Dioscorea zingiberensis C.H. Wright, thuộc họ Củ nâu (Dioscoreaceae).
Mô tả: Thân rễ mọc bò ngang, nom như của gừng, vỏ ngoài thô, màu nâu, rễ con cứng. Thân cứng, dài 5-10m, không lông, quấn qua phải. Lá mọc so le, hình tam giác tim, dạng khiên, to 5 x 5cm, gân gốc 7, chóp lá nhọn sắc, cuống lá dài 4-6cm, có gai ở gốc. Cụm hoa hình bông đơn, dài, mọc ở nách lá. Quả nang hơi rộng hơn cao, to 2-2,3cm, màu nâu đậm, có 3 cánh. Hạt  có cánh. Ra hoa tháng 5-8; có quả tháng 9-10.
Bộ phận dùng:Thân rễ (Rhizoma Dioscoreae Zingiberensis). Ở Trung Quốc, người ta gọi nó là Thuẫn diệp thự dự
Nơi sống và thu hái:Cây mọc hoang ở rừng núi, ven sông suối lớn, gặp nhiều ở vùng Tây Nguyên, Bình Định, Phú Yên. Cũng phân bố ở trung Quốc. Nay được gây trồng bằng thân rễ. Thu hái thân rễ vào mùa thu, khi cây tàn lụi, rửa sạch cắt bỏ rễ con, cạo vỏ ngoài, thái mỏng phơi hoặc sấy khô.
Thành phần hoá học:Trong thân rễ có tinh bột, các saponin steroid; khi thuỷ phân saponin, người ta thu được diosgenin với hiệu suất 1,2-2%. Còn có dioscin.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Diosgenin là một trong những nguyên liệu chính để tổng hợp các thuốc steroid như nội tiết tố sinh dục, thuốc chống viêm corticosteroid, thuốc cai đẻ và thuốc làm tăng đồng hoá. Nhân dân ở các địa phương có củ mài gừng dùng củ dể duốc cá.

CỦ MÀI

CỦ MÀI

Tên khác: Củ mài, Khoai mài
Tên khoa học: Dioscorea persimilis Prain et Burk., thuộc họ Củ nâu (Dioscoreaceae).
Mô tả: Dây leo quấn; thân nhẵn, hơi có góc cạnh, màu đỏ hồng, thường mang những củ nhỏ ở nách lá (dái mài). Rễ củ đơn độc hoặc từng đôi, ăn sâu vào đất đến hàng mét, hơi phình ở phía gốc, vỏ ngoài có màu nâu xám, thịt mềm màu trắng. Lá mọc so le hay mọc đối, hình tim, đôi khi hình mũi tên, không lông, dài 10cm, rộng 8cm, nhẵn, chóp nhọn, có 5-7 gân gốc. Cụm hoa đơn tính gồm các bông khúc khuỷu, dài 40cm, mang 20-40 hoa nhỏ màu vàng; hoa đực có 6 nhị. Quả nang có 3 cánh rộng 2cm. Hạt có cánh mào.
Bộ phận dùng: Rễ củ (Rhizoma Dioscoreae Persimilis); thường gọi là Hoài sơn.
Phân bố và thu hái: Cây mọc hoang phổ biến ở miền Bắc và miền Trung của nước ta cho tới Huế. Còn phân bố ở Trung Quốc, Lào và Campuchia. Cũng được trồng nhiều ở đồng bằng để đáp ứng nhu cầu lớn về dược liệu; có thể trồng bằng gốc rễ hoặc dái mài về mùa xuân. Sau một năm đã có thu hoạch. Đào củ vào mùa hè - thu khi cây đã lụi, mang về rửa sạch, gọt vỏ cho vào lò xông lưu huỳnh 2 ngày đêm, sau đó phơi sấy cho đến khô.
Thành phần hoá học:Củ mài chứa tinh bột 63,25%, protid 6,75% và glucid 0,45%. Còn có mucin là một protein nhớt, và một số chất khác như allantoin, cholin, arginin, men maltose, saponin có nhân sterol.
Tính vị, tác dụng:Củ mài có vị ngọt, tính bình, có tác dụng bổ tỳ vị, ích tâm phế, bổ thận, chỉ tả lỵ.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Nhân dân vùng núi thường đào củ mài về cạo sạch vỏ, luộc, xào hoặc nấu canh ăn; có thể dùng ghế cơm để ăn như các loại khoai. Hoài sơn được sử dụng làm thuốc bổ ngũ tạng, mạnh gân xương và dùng chữa: 1. Người có cơ thể suy nhược; 2. Bệnh đường ruột, ỉa chảy, lỵ lâu ngày; 3. Bệnh tiêu khát; 4. Di tinh, mộng tinh và hoạt tinh; 5. Viêm tử cung (bạch đới); 6. Thận suy, mỏi lưng, đi tiểu luôn, chóng mặt, hoa mắt; 7. Ra mồ hôi trộm. Ngày dùng 12-24g hay hơn sắc uống hoặc tán bột uống. Thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.
Bài thuốc:
1. Chữa trẻ em gầy yếu, nhác ăn, phụ nữ có mang mỏi mệt chán cơm hay người có bệnh đái đường gầy róc, dùng Hoài sơn thái miếng đồ lên, sao già tán bột, uống mỗi lần 6-10g; ngày uống 2-3 lần vào giữa buổi lúc đói. Hoặc dùng củ mài luộc ăn.
2. Chữa trẻ em ỉa chảy kéo dài, hoặc ỉa phân nhầy có mùi, lỵ mạn tính, phụ nữ bạch đới, nam giới di tinh, đau lưng suy yếu; dùng Củ mài 200g, Củ súng, Hạt sen, Ý dĩ sao, đều 100g, sấy khô tán bột uống mỗi ngày 20g với nước cơm.
3. Thuốc bổ dưỡng: Hoài sơn, Quả tơ hồng, Hà thủ ô, Huyết giác, Đỗ đen sao cháy mỗi loại 1kg, Vừng đen 300g, Ngải cứu 200g, gạo nếp rang 100g, muối rang 5g, tán bột, làm viên, uống mỗi ngày 10-20g (viên Kiến thiết của Hợp tác xã Hợp châu).

Tuesday, 4 December 2012

NẦN NGHỆ-Dioscorea collettii Hook. f.

NẦN NGHỆ
Rhizoma Dioscoreae


Dioscorea collettii Hook. f. Họ Củ nâu Dioscoreaceae
Dioscorea collettii Hook. f. Họ Củ nâu Dioscoreaceae

Tên khác: Củ nần, Nần vàng, Râu hùm
Tên khoa học: Dioscorea collettii Hook. f. Họ Củ nâu Dioscoreaceae.
Mô tả:
Thân rễ màu vàng, phân nhiều nhánh ngắn tạo thành một khối đạt tới đường kính 20cm. Thân khi sinh quấn trái. Lá đơn mọc so le, cuống lá dài bằng phiến, phiến lá hình tim, dài 6 - 10cm rộng 5 - 9cm, 7 gân, 3 gân giữa tới đỉnh lá. Gốc cuống lá có 2 gai nhỏ cong. Cụm hoa đực bông xim, dài 10 - 30cm, mỗi xim có 3 - 4 hoa.
Hoa đực không cuống. Bao hoa 6 bộ phận bằng nhau hàn liền ở gốc, 6 thùy hình tam giác, đỉnh tròn, 3 nhị sinh sản, chỉ nhị chi đôi hình cái nạng, mỗi nhánh mang một số phấn, 3 nhị lép, hình dùi. Cụm hoa cái chùm, dài 15 - 30cm. Hoa cái có 2 lá bắc. Bao hoa 6 thùy, không có nhị lép, núm nhụy 3 thùy, quả nang quặt lại, có 3 cánh, 3 ô, mỗi ô có 2 hạt; hạt có cánh tròn. Toàn thân khi khô có màu đen.
Thân rễ dưới đất, tháng 2 - 3, mọc thân khí sinh, tháng 5 - 6 ra hoa kết quả và tàn vào tháng 11 - 12.
Bộ phận dùng: Thân rễ đã phơi hay sấy khô của cây Nần nghệ (Dioscorea collettii Hook. f.).
Phân bố:
Việt Nam: Cây sống ở vùng đồi núi cao nguyên Mộc Châu, Hà Giang, Hòa Bình.
Thế giới: Trung Quốc, Ấn Độ, Mianma.
Thành phần hóa học:Trong rễ có 2 - 4% diosgenin.
Tác dụng: Cao của thân rễ có tác dụng chống viêm và làm giảm cholesterol trong máu.
Công dụng: Điều trị những người mỡ trong máu cao, rối loạn chuyển hóa lipid.
Cách dùng, liều dùng: Ngày 2-4 g, dạng thuốc sắc
Ghi chú: Loài hiếm. Cây mọc ở vùng đồi núi cao nguyên có nguy cơ bị tuyệt chủng vì việc khai thác đất đai để trồng cây lương thực và cây công nghiệp.
Cây thuốc Nần vàng đã được Tiến sỹ lương y Nguyễn Hoàng tìm ra từ những năm đầu thập kỷ 70 của Thế kỷ trước, qua gần 40 năm nghiên cứu và phát triển, cùng với sự cộng tác tích cực các thầy thuốc ở BV Hữu nghị Việt Xô và nhiều cộng sự tại bộ môn Dược liệu, Dược học cổ truyền, Dược lý… của Đại học Dược Hà Nội,  NẦN VÀNG TIÊN THẢO (*)  đã ra đời với 100% nguồn gốc từ thảo dược, giúp hạ mỡ máu, trừ thấp tiêu viêm và điều hoà nhịp tim. Sản phẩm mang lại hiệu quả rất tốt trong việc điều trị các trường hợp mỡ máu cao, gan nhiễm mỡ, xơ vữa động mạch, cao huyết áp, tai biến mạch máu não, nghẽn mạch, nhồi máu cơ tim, thấp khớp và hỗ trợ điều trị béo phì.

CÔNG THỨC:

Mỗi viên nang Nần Vàng Tiên Thảo chứa:

Cao rễ Nần Vàng ... 480 mg;

Cao rễ Ngưu Tất ...10 mg;

Cao nụ Hoa Hòe ...1 mg;

Glucose, Lactose, phụ liệu vừa đủ 500 mg

Chế phẩm Nần vàng
Chế phẩm Nần vàng
Sản phẩm đã được chứng minh đạt hiệu quả cao trong các trường hợp:

- Mỡ máu cao, gan nhiễm mỡ;

- Phòng ngừa xơ vữa động mạch, cao huyết áp, tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim;

- Thấp khớp, hỗ trợ điều trị bệnh béo phì.

CÔNG DỤNG:

Cung cấp các hoạt chất quý từ thảo mộc giúp giảm Cholesterol trong máu; giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, huyết áp; giảm đau nhức xương khớp.

ĐỐI TƯỢNG SỬ DỤNG:

- Người có mỡ máu cao,

- Người béo phì,

- Người có nguy cơ mắc bệnh về tim mạch, huyết áp,

- Người bị thấp khớp, đau nhức xương khớp.

CÁCH DÙNG:

Uống 2 viên/lần x 2 lần/ngày, uống sau ăn ~ 45’ với nhiều nước >300ml

+ Mỡ máu cao:

Uống liên tục 4 tuần, đảm bảo xét nghiệm các chỉ số Lipoprotein trong máu có xu hướng trở về bình thường, đặc biệt hạ rất mạnh mỡ xấu (LDL-c ) và giúp tăng mỡ tốt (HDL-c).

+ Gan nhiễm mỡ, huyết áp cao:

Nhờ xử lý tận gốc căn nguyên nên giúp hạ mỡ xấu dư thừa, hạ và ổn định huyết áp. Trong trường hợp này uống liên tục 8 tuần.

+ Những trường hợp có nguy cơ tai biến mạch máu não, loạn nhịp tim, nhồi máu cơ tim, có các biểu hiện tổn thương mạch, nghẽn mạch, vữa xơ động mạch: dùng liên tục trong 3 tháng để đạt hiệu quả tối ưu.

+ Người béo phì nên uống 2 viên/lần x 3 lần/ngày.

* Để đạt hiệu quả cao và bền vững lâu dài: sau các liệu trình trên nên duy trì uống 1-2 viên/ngày; kết hợp với chế độ ăn uống, sinh hoạt và tập luyện điều độ, khoa học.

• Sản phẩm đã được đánh giá tại Đại học Y số 1 Trê-xê-nốp Matxocơva, Liên Xô cũ vào năm 1986.

• Đã được Đại học Dược Hà Nội, Việt Nam đánh giá xuất sắc vào năm 1995.

• Đã được nghiên cứu kỹ lưỡng và đánh giá thành phần hoạt tính Saponin cũng như tác dụng dược lý lâm sàng với đầy đủ bằng chứng khoa học vững chắc bởi TS.Lương y. Nguyễn Hoàng; Cùng với các cộng sự của Đại học Dược Hà Nội, Viện Lão Khoa, Bệnh viện Hữu nghị Việt Xô.

• Đã được sử dụng an toàn, hiệu quả trên lâm sàng cho người có mỡ máu, huyết áp cao. Được Ngành Y, Hội đồng Y, Ngành Dược và xã hội đánh giá rất cao.

• Sản phẩm đã được trao giải Chất lượng vàng, dịch vụ vàng top 100 năm 2012


Liện hệ mua hàng: ĐT: 098.99.656.03 hoặc đến địa chỉ phòng khám TS. Lương y Nguyễn Hoàng 22, Ngõ 1, Thọ Lão, Q. Hai Bà Trưng, Hà Nội