Showing posts with label Tiliaceae. Show all posts
Showing posts with label Tiliaceae. Show all posts

Saturday, 22 February 2014

ĐAY QUẢ DÀI

ĐAY QUẢ DÀI

Tên khác: Ðay quả dài, Rau đay
Tên khoa học: Corchorus olitorius L., thuộc họ Ðay (Tiliaceae).
Mô tả: Cây thảo cao 1-2m, màu đo đỏ, ít phân nhánh. Lá có phiến hình trái xoan nhọn hay tù ở gốc, có răng, dài 5-9cm, có 3-5 gân gốc. Hoa vàng ở nách lá, xếp 3 cái một trên một cuống chung ngắn; cuống hoa cũng ngắn. Quả hình trụ, dài 5cm, nhẵn, có 10 đường lồi. Hạt hình quả lê, tiết diện ngang có hình 5 cạnh.
Bộ phận dùng:Toàn cây (Herba Corchori Olitoru).
Phân bố và thu hái:Cây trồng khắp châu á, châu Phi và châu Mỹ. Ở nước ta, Ðay quả dài được trồng trong các vườn gia đình. Rau Ðay sinh trưởng nhanh, chỉ sau khi gieo một tháng đã có thể lấy lá non, ngọn non làm rau ăn.
Thành phần hoá học:Rau Ðay chứa 78,3% nước; 5,3% protid; 0,8% lipid; 2,5% cellulose; 10,6%; dẫn xuất không protein, 2,5% khoáng toàn phần, 5,5mg% calcium và 1,6mg% phosphor. Quả chứa vitamin C. Hạt chứa 2 digitalin glucosid là corchoroside A và corchoroside B, một chất đắng là corechorin.
Tính vị, tác dụng:Lá Ðay quả dài có chất nhầy dịu nên dùng ăn bổ, lợi tiêu hoá, nhuận tràng, giải nhiệt và lợi tiểu. Toàn cây có vị đắng, tính lạnh, có độc; có tác dụng kháng viêm, cầm máu, giải nóng mùa hè, hoạt trường, lợi sữa, sinh tân dịch, khỏi táo bón, làm cho dễ đẻ và mát máu, an thai. Hạt đay quả dài có vị đắng, tính nóng, không độc, có tác dụng chuyển máu, bổ tim.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường được dùng trong trường hợp đề phòng đột quỵ vì sốt nóng và trị táo bón, đái buốt, đái khó, lậu, sỏi thận cấp tính, lỵ. Cũng dùng làm thuốc lợi sữa và chữa khái huyết, nôn ra máu, các bệnh về phổi. Có thể dùng trị ngộ độc cá. Nước hãm lá dùng uống bổ và hạ nhiệt. Hạt được dùng trong các trường hợp sài uốn ván, vô kinh và kinh nguyệt không đều. Rau đay là một loại rau lợi sữa, nên người ta dùng cho phụ nữ sinh đẻ ăn trong tuần đầu sau khi sinh, mỗi bữa ăn 150-200g và sau đó mỗi tuần ăn 2 lần, với lượng 200-250g thì sự tăng tiết sữa sẽ được duy trì; sữa có hàm lượng chất béo cao hơn bình thường. Phụ nữ ít sữa, người già táo bón nên ăn canh rau đay hàng ngày.
Bài thuốc:
1. Trị lỵ mới phát:Dùng 15-30g rau Ðay tươi sắc đặc uống thì thông đại tiện, khỏi mót rặn.
2. Khái huyết, nôn ra máu: Dùng lá rau Ðay, Cốt khí củ, Long nha thảo mỗi vị 9g, sắc uống.
3. Trị ngộ độc cá:Dùng lá rau Ðay tươi 90g, sắc uống với đường phèn, uống được nhiều càng tốt.

Friday, 21 February 2014

ĐAY DẠI

ĐAY DẠI

Tên khác: Ðay dại, Bố dại, Bố rừng
Tên khoa học: Corchorus estuans L., thuộc họ Ðay (Tiliaceae).
Mô tả: Cây thảo sống lâu năm, phân cành nhánh nhiều; thân đo đỏ; nhánh có hàng lông. Lá hình bầu dục, tròn ở gốc, nhọn ở đỉnh; mép lá khía răng ngắn, nhọn, đôi khi kéo dài thành lông dài, đều nhau; thường ở phía gốc lá tận cùng bằng hai cái lông rất dài; 3-5 gân gốc; phiến lá nhẵn cả hai mặt; cuống mảnh; lá kèm dài, mảnh, nhọn đầu và khá dai. Hoa nhỏ bé, xếp hai cái trên một cuống ngắn ở nách lá, màu vàng. Quả nang hình trụ, áp vào thân, mở thành 3-4 mảnh; hạt rất nhiều, nhẵn. Ra hoa vào mùa hè, có quả vào mùa đông.
Bộ phận dùng: Lá (Folium Corchori).
Phân bố và thu hái:Loài phân bố ở Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia, Philippin, Inđônêxia, châu Ðại Dương và các vùng nhiệt đới châu phi. Ở nước ta, Ðay dại thường mọc phổ biến ở các bãi hoang, ven các đường đi, tới độ cao 1.000m.
Thành phần hoá học:Người ta đã biết trong cây có: nước 72%, Protid 4,2%, lipid 1,35%, cellulose 3,3%, dẫn xuất không protein 17,2%, khoáng toàn phần 2%.
Tính vị, tác dụng:Lá cây có vị đắng, tính mát, có tác dụng giải nóng, giải cảm nắng. Hạt lợi tiêu hoá.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Nhân dân thường hái lá về làm thức ăn cho lợn. Vỏ cây cho một loại sợi dùng để dệt các mặt hàng thô hoặc làm giấy. Người ta thường lấy cả cây giã nát để tắm cho trẻ em bị bệnh sởi làm cho sởi chóng mọc và làm thuốc đòn ngã. Lá Ðay dại trộn với đường vàng giã nát đắp lên nhọt để rút mủ. Ngọn và lá non, vỏ quả, thái nhỏ thường dùng nấu canh ăn cho mát, do nó có tác dụng lợi tiểu. Dân gian cũng dùng toàn cây sắc uống trị phù thũng.
Ở Ấn Độ, hạt được dùng trong bệnh viêm phổi.

Sunday, 16 February 2014

ĐAY

ĐAY

Tên khác: Ðay hay Ðay quả tròn
Tên khoa học: Corchorus capsularis L,, thuộc hộ Ðay (Tiliaceae).
Mô tả: Cây thảo hằng năm cao 1-2m, màu tím nhạt, ít phân nhánh. Lá hình bầu dục nhọn, hẹp ngang, tròn ở gốc, có mũi nhọn ở chóp, nhẵn, có răng, dài 6-10cm, rộng 15-30mm; răng nhọn; đều, 2 răng dưới có lông dài, gân gốc 3-5. Hoa họp 2-3 cái một ở nách lá. Quả hình cầu hay hình quả lê dài 12mm, rộng 10-11mm, có cạnh lồi, mở thành 5 mảnh van. Hạt dẹp, có góc. Cây ra hoa tháng 6.
Bộ phận dùng: Rễ, lá và hạt (Radix, Folium et Semen Corchori Capsularis).
Phân bố và thu hái:Cây của Ấn Độ, nhập trồng làm rau ăn và lấy sợi. Thu hái rễ và lá vào mùa hè; thu hạt vào mùa thu khi quả chín, phơi khô.
Thành phần hoá học:Lá Ðay chứa một glucosid gọi là capsulin, một hoạt chất đắng và bổ, tác dụng lên tim như digitalin của cây Dương địa hoàng. Hạt chứa một chất đắng là corchorin và 2 glucosid digitalin là corchoroside A và corchoroside B, tác dụng tương tự như digitalin đối với tim.
Tính vị, tác dụng:Ðay có vị đắng, tính nóng có độc, có tác dụng tiêu viêm, cầm máu, giải nắng nóng. Hạt Ðay có vị đắng, tính nóng, có độc, có tác dụng hoạt huyết, trợ tim. Ở Ấn Độ, nước hãm lá được xem như làm nhầy, lợi tiêu hoá, nhuận tràng, lợi trung tiện, kích thích, gây cảm giác ngon miệng như một chất bổ đắng.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: thường dùng 1. Ðề phòng say nắng và sốt do say nắng, 2. Lỵ; 3. Ho ra máu, nôn ra máu; 4. Ngộ độc cá thối. Dùng 15-30g dạng thuốc sắc. Kỵ thai. Hạt dùng khi bị sài uốn ván, vô kinh, kinh nguyệt không đều. Liều dùng 10-15g, dạng thuốc sắc. Ở Ấn Độ, nước hãm lá dùng trị lỵ, sốt, khó tiêu và rối loạn của gan; nước sắc rễ và quả chưa chín dùng trị ỉa chảy.
Bài thuốc:
1. Lỵ: Lá Ðay tươi 15-30g sắc uống.
2. Ho ra máu, nôn ra máu: Lá Ðay, Cốt khí củ, Long nha thảo, mỗi vị 9g sắc uống.
3. Ngộ độc cá thối:Lá Ðay tươi 90g sắc với 1 lượng đường đỏ mà uống.


Wednesday, 14 August 2013

CÒ KE QUẢ CÓ LÔNG-Grewia eriocarpa-cây thuốc nam chữa đau dạ dày

CÒ KE QUẢ CÓ LÔNG


Tên khác: Cò ke lá sếu; Giam; Cò ke trái có lông; Cò ke cao; Bai kriem
Tên khoa học: Grewia eriocarpa Juss.; thuộc họ Ðay (Tiliaceae).
Tên đồng nghĩa: Grewia celtidifolia Juss, Grewia asiatica var. celtidifolia (Juss.) Gagnep, Grewia excelsa Pierre, non Vahl
Mô tả: Cây nhỡ cao 2-9m; nhánh tròn có lông mịn hình sao. Lá có phiến thuôn bầu dục, dài 6-13cm, rộng 3-6cm, gốc tròn, bất xứng nhọn ở đầu, mép lá khía răng nhọn, có lông tơ mịn ở mặt trên, có lông màu trắng hay hung ở mặt dưới; gân gốc 4-5; cuống lá dài 3-10mm, có lông mịn. Cụm hoa tán ở nách lá, mỗi cuống chung mang 3 hoa; hoa màu trắng hay vàng, cánh hoa đầy lông ở phần dưới; bầu có lông ở phần trên. Quả hạch hình cầu, đường kính 6-8mm, có lông mịn trắng. Cây ra hoa tháng 1, có quả tháng 7.
Bộ phận dùng: Lá, thân (Folium et Caulis Grewiae Eriocarpae).
Phân bố sinh thái:Loài nguồn gốc Trung Quốc, Việt Nam, Indonesia. Ở nước ta cây mọc trong rừng thứ sinh vùng trung du miền Bắc qua Quảng Nam - Ðà Nẵng tới Ðồng Nai.
Công dụng: Ở Trung Quốc người ta dùng lá, thân trị đau dạ dày.          

CÒ KE LÔNG-Grewia hirsuta-cây thuốc nam chữa mụn nhọt

CÒ KE LÔNG


Tên khác: Cò ke lông nhám; A ben; Ca me; Bua la be.
Tên khoa học: Grewia hirsuta Vahl; thuộc họ Ðay (Tiliaceae).
Tên đồng nghĩa: Grewia hirsuta Sm.; Grewia hirsuta Roxb.; Grewia hirsuta (Korth.) Kochummen; Grewia hirsuta var. helicterifolia (Wall. ex G.Don) Haines
Mô tả: Cây bụi cao khoảng 1m, nhánh yếu, đầy lông hình màu hung. Lá hình giáo nhọn đầu, tù, tròn hay hình tim gốc, dài 6-13cm, rộng 1,7-2,5cm, cả hai mặt đều có lông, có răng mảnh không đều; 3 gân gốc; cuống có lông, lá kép 8-10mm, dễ rụng. Chuỳ hoa ngắn ở nách lá, có lông mịn mềm nụ hoa hình bầu dục, cánh hoa ngắn hơn dài; tuyến mật một vành lông; nhị nhiều; bầu đầy lông. Quả có 4 hạch, mỗi hạch 2 hạt. Ra hoa tháng 9-12 quả chín tháng 2.
Bộ phận dùng: Rễ (Radix Grewiae Hirsutae).
Phân bố sinh thái:Cây mọc chủ yếu ở miền Trung nước ta (Bình Thuận, Lâm Ðồng), cũng gặp ở miền Bắc (Lạng Sơn). Còn phân bố ở Campuchia, Ấn Độ, Sri Lanca.
Công dụng: Ở Campuchia người ta dùng rễ chữa mụn nhọn. Ở Ấn Độ có một thứ trong loài này là Grewia hirsuta Vallvar, helicterifolia có quả, rễ cũng được sử dụng. Quả và rễ dùng trị ỉa chảy và kiết lỵ. Rễ cũng được dùng giã ra ngâm trong nước để dùng ngoài chống sự mưng mủ và dùng như thuốc bột lên vết thương.

CÒ KE LÁ KÉ-Grewia urenifolia-cây thuốc nam chữa vết thương ngoài da

CÒ KE LÁ KÉ


Tên khoa học: Grewia urenifolia (Pierre) Gagnep.; thuộc họ Ðay (Tiliaceae).
Tên đồng nghĩa: Grewia abutilifolia Juss. var. urenifolia Pierre; thuộc họ Ðay (Tiliaceae).
Mô tả: Cây mọc thành bụi cao 1m, nhánh mảnh, có lông hình sao nhiều ở mặt dưới, gân từ gốc 3, cuống 1-1,5cm. Hoa trên 1-2 trục 3 hoa, lưỡng tính, lá dài 6mm; cánh hoa ngắn; bầu đầy lông; 2 ô. Ra hoa tháng 11-3.
Bộ phận dùng: Lá (Folium Grewiae Urenaefoliae).
Phân bố sinh thái:Loài của Campuchia, Lào và Việt Nam. Ở nước ta, cây mọc ở vùng đồi núi các tỉnh Kontum, Lâm Ðồng, Ðồng Nai.
Công dụng: Ở Campuchia, người ta giã lá để đắp các vết thương do bị ngoại thương xuất huyết hay dao chém.

CÒ KE Á CHÂU-Grewia asiatica-cây thuốc nam trị thấp khớp

CÒ KE Á CHÂU


Tên khác: Giam phủ; Cò ke pierre.
Tên khoa học: Grewia asiatica L.; thuộc họ Ðay (Tiliaceae).
Tên đồng nghĩa: Grewia vestita Pierre, non Wall. ex Brandis, Grewia asiatica var. vestita (Pierre) Gagnep, Grewia acuminata var. pierrei Gagnep. sec. Phamh.
Mô tả: Cây gỗ nhỏ cao 3-6m, nhánh non có lông nhiều. Lá có phiến đa dạng, thường bầu dục; lúc non có lông trắng ở mặt dưới; lá kèm nhọn, dài hơn cuống. Xim ở nách lá; hoa trắng lá đài có lông dài ở mặt trong; cánh hoa cao 4-5mm, có vòng lông quanh đĩa mật; nhị nhiều, bầu đầy lông. Quả hạch đen, có lông sát, đường kính 8-9mm, nhân 4 hay ít hơn. Ra hoa tháng 4-11.
Bộ phận dùng: Vỏ rễ, lá và quả (Cortex Radicis, Folium et Fructus Grewiae Asiaticae).
Phân bố sinh thái:Cây mọc ở rừng thưa, rừng già các tỉnh Nam Hà, Ninh Bình, Quảng Bình, Ðắc Lắc, Ninh Thuận, Lâm Ðồng, Ðồng Nai.
Tính vị, tác dụng:Quả làm se, làm mát và lợi tiêu hoá. Vỏ có tính làm nhầy dịu.
Công dụng: Ở Ấn Độ, vỏ rễ dùng trị thấp khớp, lá dùng trị phát ban mụn mủ.                

Monday, 24 June 2013

CÒ KE-Bung lai-Grewia paniculata-cây thuốc chữa chữa gãy xương

CÒ KE


Tên khác: Cò ke lá lõm; Bung lai.
Tên khoa học: Grewia paniculata Roxb.; thuộc họ Ðay (Tiliaceae).
Tên đồng nghĩa: Microcos tomentosa Smith in Rees, Grewia tomentosa Roxb. ex DC. sec. Phamh.
Mô tả: Cây gỗ hay cây nhỡ, có nhánh hầu như mọc đứng. Lá hình giáo ngược tròn không đến ở gốc, nhọn đột ngột hay cụt hoặc lõm sâu và chia hai thuỳ, có thuỳ xoan - tù có răng, có góc về phía đỉnh, dài 15cm, rộng 6cm, có lông hình sao ngắn ở trên, có lông mềm và gần như phớt đen ở mặt dưới, có 3 gân gốc gần như bằng nhau, cuống lá to, dài 6-10cm. Hoa thành chuỳ hình tháp, dài tới 15cm, có cuống hoa rất ngắn. Quả hơi nạc, có thớ, dạng trứng, dài 8-10mm, hơi có lông. Hạt đơn độc. Ra hoa kết quả quanh năm. 
Bộ phận dùng: Rễ, lá (Radixet Folium Grewiae).
Phân bố sinh thái:Cây chỉ gặp ở phía Nam nước ta, trong các rừng thứ sinh, ven đường, thông thường ở độ cao dưới 600m. Cũng phân bố ở Ấn Độ, Malaysia.
Thành phần hoá học:Gỗ chữa nhiều aceton.
Công dụng: Ở Campuchia, người ta dùng quả để ăn. Rễ được dùng làm thuốc sắc uống chữa ho. Ở Malaysia, nước sắc rễ dùng trị sốt rét, nước hãm dùng trị các rối loạn đường tiêu hoá. Bột lá dùng trị ghẻ. Nước sắc lá và vỏ cây dùng xức rửa chữa gãy xương.

Wednesday, 12 June 2013

CHONG-Dây meo, Dây đọt chung, Dây lá be, Lòng mang đực, Cò ke cánh sao- Grewia astropetala-cây thuốc

CHONG


Tên khác: Dây meo, Dây đọt chung, Dây lá be, Lòng mang đực, Cò ke cánh sao.
Tên khoa học: Grewia astropetala Pierre; thuộc họ Ðay (Tiliaceae).
Mô tả: Cây bụi mọc leo, có nhánh ngang, dài và mảnh, phủ lông hình sao màu hung. Lá có phiến hình ngọn giáo, tròn hay cụt ở gốc, nhọn ở đầu, nhám ở mặt trên, mặt dưới có lông hình sao; gân gốc 3. Cụm hoa ở nách lá, có lông hung, lá đài 8-9mm, hẹp; cánh hoa ngắn bằng 1/2 lá đài; nhị 12-22; bầu dầy lông; 2 ô. Quả mập, dài 9mm, rộng 10mm, có 4 hạch hay ít hơn do bị lép, chứa mỗi cái có một hạt. Ra hoa tháng 6-8, quả tháng 9-10.
Bộ phận dùng: Rễ (Radix Grewiae).
Phân bố sinh thái: Cây mọc ở đất hoang, rừng còi, tới độ cao 1000m từ Quảng Nam - Ðà Nẵng tới Ðồng Nai và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Còn phân bố ở Campuchia và Lào.
Công dụng: Quả ăn được. Rễ được làm thuốc trị đau bụng (Ðồng Nai). Vỏ cây được dùng ở Nam Trung Bộ thay chay để ăn với trầu.

Wednesday, 22 May 2013

BUNG LAI-CÔNG DỤNG CÁCH DÙNG-CÂY THUỐC NAM

BUNG LAI


Tên khác: Chua kè, Cò kè, Mé.
Tên khoa học: Microcos panicutulaL.; thuộc họ Đay (Tiliaceae).
Mô tả: Cây nhỡ cao 3-10m. Lá hình mác, tròn ở gốc, nhọn sắc và có mũi nhọn ngăn ngắn, hơi có răng, có lông trên các gân ở mặt trên, rải rác lông thưa ở mặt dưới, dài 8-20cm, rộng 4-10cm, có 3 gân gốc. Hoa thành chuỳ ở ngọn, có lông mềm ngắn, với cuống rất ngắn. Quả đen, dạng quả lê, hơi nạc, dài 1cm, chứa 1-2 hạt. Hoa tháng 4-7, quả tháng 6-8.
Bộ phận dùng: Lá (Folium Microcoris Paniculatae).
Phân bố sinh thái: Loài phân bố ở Ấn Độ, Trung Quốc, Lào, Malaixia, Indonesia và Việt Nam. Ở nước ta, cây mọc ở các đồi hoang, bãi cỏ, ven rừng sáng, phổ biến ở miền Bắc Việt Nam và một số nơi ở miền Trung (Đắc Lắc). Thu hái lá vào mùa hè-thu, phơi khô.
Thành phần hoá học: Hạt chứa dầu.
Tính vị, tác dụng: Lá có vị nhạt, hơi chua, tính bình; có tác dụng thanh thử, tiêu thực, thu liễm chỉ tả, hoá đàm.
Công dụng, chỉ định và phối hợp:
- Thường được dùng trị: 1. Cảm lạnh, đau đầu; 2. Tiêu hoá kém, trướng bụng, ỉa chảy; 3. Viêm gan.
- Ở Trung Quốc, người ta còn dùng để giải mọi cổ trướng, thanh giải chứng sưng thũng vàng da, tiêu nhiệt độc, giải độc rắn cắn, pha làm nước uống trừ tích thực. Dân gian vẫn dùng quả để ăn. Lá đem hơ sấy trên than dùng sắc lấy nước cho trẻ em uống trị giun. Ở Ấn Độ, cũng được sử dụng làm thuốc trị tiêu hoá kém, sốt, thương hàn, lỵ và loét giang mai ở môi và dùng chữa bệnh phó đậu, eczema và ghẻ ngứa.
Liều dùng: 15-30g mỗi ngày, đun sôi và dùng nước uống thay trà.