Showing posts with label D. Show all posts
Showing posts with label D. Show all posts

Monday, 27 October 2014

DŨ SANG-Guaiacum officinale-Cây thuốc chứa nhựa

DŨ SANG


Tên khác: Gaiac.
Tên khoa học: Guaiacum officinale L.; thuộc họ Gai chống (Zygophyllaceae).
Mô tả: Cây gỗ cao 3-5m, luôn luôn xanh, vỏ thân màu nâu, có lông. Lá mọc đối, kép chẵn, lá chét 4-6, xoan thon ngược, rất tù, không cuống, không lông; lá kèm ngắn. Xim ở nách lá; hoa nhỏ; lá đài 5, bằng nhau; cánh hoa 5, màu lam; nhị 10, rời nhau; bầu có cuống ngắn, 2-3 ô. Quả nang tròn tròn có 2 cạnh như cánh, không lông, vàng khi chín.
Bộ phận dùng: Gỗ và nhựa (Lignum et Resina Guaiaci).
Phân bố sinh thái: Cây có nguồn gốc ở các đảo vùng biển Caribê và bờ biển Bắc của Bắc Mỹ, thường ở nơi khô hạn. Việt Nam có nhập trồng làm cảnh ở Thảo cẩm viên thành phố Hồ Chí Minh vì tán lá đẹp.
Thành phần hoá học:Cây chứa nhựa (20-25%), chứa acid guaiaconic α và β (20%), acid guaiaretic (10%) acid guaiacic, nhựa β-guaiacic, chất màu vàng, vanilin, saponin, acid guaicosaponic, guaiaguttin.
Tính vị, tác dụng:Lõi gỗ thơm, nhựa nâu trong có tác dụng kích thích tại chỗ, phấn khích, hơi nhuận tràng, chống viêm. Lá có tác dụng làm ra mồ hôi.
Công dụng, cách dùng:
Ở Âu châu, người ta dùng lõi gỗ sắc uống nóng làm thuốc ra mồ hôi; cũng có hiệu quả đối với chứng đau họng. Cồn guaiac dùng làm đối chứng cho sự hiện diện của các yếu tố oxy hoá, nó biến đổi thành màu lam. Gỗ rất cứng, dùng làm hòn ném. Nhựa được dùng như chất chống oxy hoá đối với các chất béo và dầu ăn.
Ở Ấn Độ, nhựa cũng được dùng làm thuốc nhuận tràng nhẹ và dùng điều trị thấp khớp mạn tính và thống phong. Dùng dưới dạng viên thuốc ngậm để điều trị sưng amygdal, viêm hầu họng với thấp khớp. Cây dùng làm chất giữ màu của thức ăn đóng hộp và chống oxy hoá cho mỡ. Được sử dụng dưới dạng cồn thuốc để thăm dò sự biến màu của máu và thử sự hiện diện của các glucosid cyanogenetic. Vỏ thân cũng chứa một chất nhựa khác nhưng cũng tương đồng với nhựa của gỗ, nó có vị cay và kích thích, được sử dụng làm cồn thuốc và làm thuốc viên.

DU SAM-Thông tô hạp-Keteleeria evelyniana

DU SAM


Tên khác: Thông tô hạp.
Tên khoa học: Keteleeria evelyniana Mast.; thuộc họ Thông (Pinaceae).
Tên đồng nghĩa: Keteleeria delavayi Tieghem; K. dopiana Flous; K. evelyniana var. pendulaHsüeh.
Mô tả: Cây gỗ lớn cao đến 40m. Lá dẹp, hẹp, có đầu nhọn ở nhánh dài, tù tròn ở nhánh ngắn, mặt trên nhẵn, mặt dưới có 2 dải trắng. Chuỳ hoa dài 15-20cm; vẩy mỏng, cứng, không rụng, đầu tù hay tròn, màu đỏ nâu; hạt bóng, đen, dài 0,6cm, có cánh dài 15mm, màu vàng.
Bộ phận dùng: Dầu hạt (Oleum Keteleeriae).
Phân bố sinh thái:Du sam mọc ở độ cao trên 600m, nơi có đất đá vôi ở Tây Bắc nước ta, và cũng gặp phổ biến ở vùng Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng, thường mọc lẫn với thông nhựa hoặc hỗn giao với các cây họ Dẻ, họ Long não.
Thành phần hoá học:Hạt chứa 50% dầu.
Công dụng, cách dùng:Gỗ Du sam cứng trung bình, dùng trong kiến thiết, làm tà vẹt, trụ mỏ và làm dụng cụ gia đình. Hạt có thể ép lấy dầu, thường dùng để đốt, chế xà phòng và dùng để đánh bóng đồ gỗ. Dầu này còn dùng làm thuốc ho, tiêu đờm và sát trùng.

DƯƠNG XỈ THƯỜNG-Cyclosorus parasiticus-cây thuốc cầm máu, hàn vết thương

DƯƠNG XỈ THƯỜNG


Tên khoa học: Cyclosorus parasiticus (Linnaeus) Farwell; thuộc họ Dớn (Thelypteridaceae).
Mô tả: Thân rễ ngắn, mọc bò. Lá xếp sít nhau, cuống lá dài 20-40cm, màu vàng rơm, chỉ có vẩy ở gốc, còn toàn bộ cuống đều có lông trắng, phiến lá có dạng ngọn giáo, dài 30-60cm, rộng 10-25cm, kép lông chim hai lần; lá chét bên nhiều, xếp sít nhau, không cuống, xếp đối ở gốc, xếp so le ở trên, gốc lá đều nhau, cụt, thuỳ lá chét tròn, các lá chét cuối hợp nhau thành một bản chẻ lông chim sâu. Ổ túi bào tử dính trên các gân, nằm ở quãng giữa mép và cuống lá, áo túi có lông rậm. Bào tử dạng bầu dục, màu vàng.
Bộ phận dùng: Lá (Folium Cyclosori Parasitici).
Phân bố sinh thái:Loài cây của Đông Dương, mọc hoang ở vùng núi.
Công dụng, cách dùng:Dân gian dùng lá giã đắp cầm máu, hàn vết thương, chữa sưng tấy.

ĐƯƠNG QUY-Angelica sinensis-cây thuốc chữa bệnh phụ nữ

ĐƯƠNG QUY


Tên khoa học: Angelica sinensis (Oliv.) Diels; thuộc họ Hoa tán (Apiaceae).
Mô tả: Cây thảo sống nhiều năm, cao 40-60cm. Rễ rất phát triển. Thân hình trụ, có rãnh dọc màu tím. Lá mọc so le, xẻ lông chim 3 lần; cuống dài 3-12cm, có bẹ to ôm thân; lá chét phía dưới có cuống, các lá chét ở ngọn không cuống, chóp nhọn, mép khía răng không đều. Cụm hoa tán kép gồm 12-36 tán nhỏ dài ngắn không đều; hoa nhỏ màu trắng hay lục nhạt. Quả bế, dẹt, có rìa màu tím nhạt. Mùa hoa quả tháng 7-9.
Bộ phận dùng: Củ (Radix Angelicae Sinensis), thường gọi là Đương quy
Phân bố sinh thái: Loài cây của Trung Quốc phát triển ở vùng cao 2000-3000m, nơi khí hậu ẩm mát. Ta nhập trồng vào đầu những năm 60 hiện nay phát triển trồng ở Sapa (Lào Cai). Ngọc Lĩnh (Kontum), Buôn Ma Thuột (Đắc Lắc) và Đà Lạt (Lâm Đồng). Nhân giống bằng hạt. Cây trồng được 3 năm sẽ cho củ tốt. Đào củ vào mùa thu, cắt bỏ rễ con, phơi trong râm hoặc cho vào thùng sấy lửa nhẹ đều khô. Củ to, thịt chắc, dẻo, màu trắng hồng, nhiều tinh dầu, có mùi thơm đặc biệt, vị ngọt sau cay là loại tốt.
Bào chế: Khi dùng thì bào chế như sau: Rửa qua rễ bằng rượu (nếu không có rượu thì rửa nhanh bằng ít nước, sau vẩy cho ráo nước). ủ một đêm cho mềm, bào mỏng 1mm. Nếu muốn để được lâu, rửa bằng nước và muối; sau đó, phải sấy nhẹ qua lưu huỳnh.
Thành phần hoá học:Rễ chứa tinh dầu 0,2%, trong đó có 40% acid tự do. Tinh dầu gồm có các thành phần chủ yếu sau: Ligustilide, n-butyliden phthalide, o-valerophenon carboxylic acid, n.butyl - phtalide, bergapten, sesquiterpen, dodecanol, tetradecanol, safrol, p-cymen, carvacrol, cadinen, vitamin B12 0,25-0,40%, acid folinic, boitin.
Tính vị, tác dụng:Vị ngọt cay, mùi thơm, tính ấm; có tác dụng bổ huyết, hoạt huyết, điều kinh, giảm đau, nhuận tràng và thông tiện.
Công dụng, cách dùng:Đương quy được dùng chữa thiếu máu xanh xao, đau đầu, cơ thể gầy yếu, mệt mỏi, đau lưng, đau ngực bụng, viêm khớp, chân tay đau nhức lạnh, tê bại, tê liệt, đại tiện táo bón, mụn nhọt lở ngứa, tổn thương ứ huyết, kinh nguyệt không đều, bế kinh, đau bụng kinh.
Liều dùng: Ngày 4,5-9g có thể tới 10-20g, dạng thuốc sắc hay rượu thuốc. Còn được dùng trị cao huyết áp, ung thư và làm thuốc giảm dau, chống co giật, làm ra mồ hôi, kích thích ăn ngon cơm.
Bài thuốc:
1. Chữa thiếu máu, cơ thể suy nhược, kinh nguyệt không đều: dùng bài Tứ vật thang gồm Đương quy 8g, Thục địa 12g, Bạch thược 8g, Xuyên khung 6g, nước 600ml, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày.
2. Bổ máu, dùng cho phụ nữ sau khi sinh đẻ, thiếu máu: dùng bài Đương quy kiện trung thang gồm Đương quy 8g, Quế chi, Sinh khương, Đại táo mỗi vị 6g, Bạch thược 10g, Đường phèn 50g, nước 600ml, sắc còn 200ml, thêm Đường chia làm 3 lần uống trong ngày.
3. Phụ nữ kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh: dùng Đương quy sắc nước uống trước khi thấy kinh 7 ngày, Phụ nữ sắp sinh nếu uống nước sắc Đương quy vài ngày trước khi sinh thì đẻ dễ dàng.
4. Chữa viêm quanh khớp vai, vai và cánh tay đau nhức không giơ tay lên được: Đương quy 12g, Ngưu tất 10g, Nghệ 8g sắc uống. Kết hợp với luyện tập hàng ngày giơ tay cao lên đầu.

Sunday, 26 October 2014

DƯỚNG NHỎ-Broussonetia kazinoki-cây thuốc nam

DƯỚNG NHỎ


Tên khác: Dướng leo.
Tên khoa học: Broussonetia kazinoki Siebold; thuộc họ Dâu tằm (Moraceae).
Mô tả: Cây nhỏ cao 2-4m, cành mảnh, có nhựa mủ. Lá mọc so le, hình thuôn, dài 6-12cm, rộng 2-5cm, đầu có đuôi dài 1-1,5cm, gốc hình tim, hai mặt lá có lông nhám; gân từ gốc 3, chạy đến 1/3 phiến, mép có răng nhỏ; cuống dài 1cm; lá kèm nhọn, cao 5mm, sớm rụng. Bông đực cao 1,5cm, lá đài 4, nhị 4; cụm hoa cái dạng đầu 8-10mm, trên cuống 1cm; hoa cái có vòi nhuỵ dài. Cây ra hoa tháng 2-5, quả tháng 3-6.
Bộ phận dùng: Rễ, lá (Radix et Folium Broussonetiae).
Phân bố sinh thái:Loài của Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam. Ở nước ta, cây phân bố từ Sơn La, Tuyên Quang, Hoà Bình tới Hà Nội, Ninh Bình và Quảng Ninh, thường mọc dại trong rừng thứ sinh.
Tính vị, tác dụng:Rễ lá có tác dụng thanh lương giải độc.
Công dụng, cách dùng:Ở Trung Quốc, rễ và lá được dùng làm thuốc trị đòn ngã tổn thương. Vỏ cây cũng được dùng làm sợi.

DƯƠNG ĐỊA HOÀNG-Digitalis purpurea-cây thuốc điều hoà hoạt động của tim

DƯƠNG ĐỊA HOÀNG


Tên khoa học: Digitalis purpurea L.; thuộc họ Hoa mõm sói (Scrophulariaceae).
Mô tả: Cây sống 2 năm, tạo thành trong năm đầu một vòng lá hoa thị ở gốc; phiến lá dài 10-30cm, hình bầu dục và có lông mềm; năm thứ hai, cây mới tạo một cán hoa và lá, cao tới 1-2m. ít khi phân nhánh. Hoa có màu tía đẹp, hình chuông, dạng như ngón của găng tay; phần dưới và trong của hoa hơi sáng hơn với các chấm màu sẫm. Cây ra hoa tháng 5-9.
Bộ phận dùng: Lá của năm thứ nhất và năm thứ hai (Folium Digitalis).
Phân bố sinh thái: Cây nguồn gốc từ châu Âu, Việt Nam nhập trồng ở Hà Nội (Văn Điển), Vĩnh Phú (Tam Đảo) và Lào Cai (Sapa). Gieo trồng bằng hạt. Khi cây mọc, bứng cây ra cấy ở ruộng với khoảng cách 10x 25cm.
Thu hái: Lá năm đầu vào mùa thu, phơi khô.
Thành phần hoá học:Tất cả các bộ phận cây đều chứa glucosid, trong đó có digitoxin (0,15-0,79g/kg lá khô), gitoxin (0,1-0,7g/kg lá khô) và gitalin, girorin, girotin... Còn có tanin, inositol, luteolin và nhiều acid và chất béo.
Tính vị, tác dụng:Với liều dược dụng, nó làm cho tim hoạt động, làm cho hưng phấn, cường tim, tăng thêm sức co bóp của tim và làm cho tim đập dịu; còn có tác dụng lợi tiểu. Với liều cao, nó gây độc mạnh.
Công dụng, cách dùng:Làm thuốc điều hoà hoạt động của tim và làm thuốc trị phù thũng toàn thân. Dùng ngoài làm cho vết thương chóng lành.

Saturday, 25 October 2014

DƯƠNG ĐẦU TÀ-Mao trật-Olax obtusa-cây thuốc nam

DƯƠNG ĐẦU TÀ


Tên khác: Mao trật.
Tên khoa học: Olax obtusa Blume; thuộc họ Dương đầu (Olacaceae).
Mô tả: Cây bụi cao tới 5m, nhánh mọc sà xuống, lúc non có lông, lúc già nhẵn và có đốm đen. Lá xếp hai dãy, dai, hình trái xoan tròn, hơi men theo cuống, mặt trên sáng bóng, mặt dưới màu vàng và hơi có lông; cuống hơi có lông và xẻ rãnh. Cụm hoa ở nách lá gồm 1-3 bông. Hoa trắng, khi khô chuyển sang màu vàng. Quả hình trứng, bao bởi đài hoa cùng lớn lên với quả. Cây ra hoa tháng 12-1, có quả vào tháng 8.
Bộ phận dùng: Lá (Folium Olacis Obtusae).
Phân bố sinh thái:Cây của miền Đông Dương và Malaysia, trong các quần hệ thứ sinh.
Công dụng, cách dùng:Hoa rất thơm. Ở Campuchia, người ta dùng các lá non giã nát, đắp những chỗ đứt, gãy.

DƯƠNG ĐÀO TRUNG QUỐC-Actinidia chinensis-trị tiêu khát, hoàng đản

DƯƠNG ĐÀO TRUNG QUỐC


Tên khoa học: Actinidia chinensis Planch.; thuộc họ Dương đào (Actinidiaceae).
Mô tả: Cây mọc leo dài 10m, rất khoẻ, có lông lởm chởm ở các phần non. Lá rất to, dạng tim, đầu tù hay hơi lõm, lúc non phủ lông đỏ, gân phụ 7-8 cặp; mép có răng nhỏ, mặt dưới có lông mịn dày; cuống 4-5cm. Hoa khác gốc, hoa trắng rồi vàng cam, thơm, 6 lá đài, 6 cánh hoa; nhiều nhị vàng; hoa cái có 20 lá noãn dính nhau. Quả mọng hình trứng, có lông nhung màu nâu dài; thịt xanh xanh; hạt nhỏ màu đen. Cây ra hoa tháng 6, quả tháng 10-11.
Bộ phận dùng: Quả (Fructus Actinidiae Chinensis) thường gọi là Mị hầu đào.
Phân bố sinh thái:Loài cây của Trung Quốc, được trồng ở nhiều nước. Đang trồng thí điểm ở nước ta, ở vùng núi cao như Sapa, Đà Lạt.
Thành phần hoá học:Quả chứa đường, sinh tố, trong đó có nhiều vitamin C (3mg/g quả tươi) acid hữu cơ, sắc tố, ngoài ra còn có actinidin và các chất carotenoid.
Tính vị, tác dụng:Vị ngọt, chua, tính hàn, có tác dụng giải nhiệt, chỉ khát, thông lâm.
Công dụng, cách dùng:Dùng trị phiền nhiệt, tiêu khát, hoàng đản, thạch lâm, trĩ sang.

DƯƠNG CAM CÚC-Matricaria chamomilla-cây thuốc nam

DƯƠNG CAM CÚC


Tên khác: Cúc la mã.
Tên khoa học: Matricaria chamomilla L.; thuộc họ Cúc (Asteraceae).
Mô tả: Cây thảo hàng năm, cao tới 60cm. Thân mọc đứng và phân nhánh. Lá kép lông chim 2 lần với các đoạn hình dải nhọn như gai. Lá nói chung hoàn toàn nhẵn. Cụm hoa hình đầu nằm ở ngọn các cuống mảnh, đường kính của đầu hoa là 1-1,5cm, với 1 vòng đơn các hoa hình lưỡi trắng và ở giữa rất nhiều hoa hình ống màu vàng xếp trên mặt đế hoa phồng lên thành dạng nón nhọn sau khi hoa nở. Quả là những quả bế màu vàng trăng trắng dạng nón ngược, nhẵn ở mặt ngoài, khía 5 cạnh ở mặt trong. Cây ra hoa tháng 5-9.
Bộ phận dùng:Các đầu hoa, ít khi dùng toàn cây có hoa (Capitulum et Herba Matricariae).
Phân bố sinh thái:Loài cây của Trung Âu được nhập vào trồng ở Đà Lạt. Gieo trồng bằng hạt vào cuối mùa thu và đầu mùa xuân.
Thu hái: Khi các đầu hoa đã nở hết hoàn toàn. Phơi trong râm ở nhiệt độ 35oC.
Thành phần hoa học:Matricaria chamomilla L. Hàm lượng tinh dầu thay đổi từ 0,2-1,8%. Màu lam sẫm của tinh dầu vừa mới cắt xong do có hàm lượng cao của chamazulen (1-1,5%). Chất carbur này được tạo thành trong quá trình chưng cất hơi nước từ một guaianolid là matricin. Các thành phần khác của tinh dầu là (-)α-bisabolol (10-25%), các acid A và B của bisabolol (10-25%), một ether cyclic poly-en, yne (1-10%) và nhiều carbur. Đầu hoa còn chứa nhiều flavonoid; umbelliferon và herniarin (cumarin).
Tính vị, tác dụng:Dương cam cúc có tác dụng tiêu viêm và khử trùng, nó cũng tác dụng như chống co thắt trên nhiều cơ quan khác nhau và cũng làm ra mồ hôi nhẹ.
Công dụng, cách dùng:Thường được dùng trong chữa các rối loạn của dạ dày, kèm theo đau, chữa trướng bụng, khó tiêu hoá, trị ỉa chảy và buồn nôn. Dương cam cúc cũng được dùng có kết quả chống các viêm nhiễm đường tiết niệu và trị chứng thống kinh. Thường dùng dưới dạng thuốc hãm (chỉ giữ được 10-15% tinh dầu hiệu hữu trong dầu hoa) hoặc chế thành thuốc (cồn chiết, siro) với liều 1 thìa xúp dược liệu trong 1 lít nước. Dùng ngoài, hãm và rửa hoặc dùng bột để trị các vết thương lâu lành, trị các bệnh về da như zona, đinh nhọt, phát ban, trĩ, chống các viêm nhiễm ở miệng, họng và mắt.
Người Đức và các nước Trung Âu dùng nhiều trong điều trị đầy hơi, đau bụng, khó tiêu hoá. Người ta dùng Dương cam cúc cùng với các chiết xuất và tinh dầu của nó để chế các pomat và các thuốc xúc rửa dùng tiêu viêm và làm lành sẹo.
Ở Tuynidi, có nơi dùng hoa làm thuốc lọc máu sau khi sinh đẻ và làm thuốc dịu đau trước khi sinh. Người ta còn dùng Dương cam cúc làm thuốc trị cơn đau sỏi thận.
Trong mỹ phẩm, người ta dùng nó chế nước gội đầu, làm gel chống nắng; tinh dầu được dùng trong hương liệu và chế xà phòng thơm.

DƯỚNG-Broussonetia papyrifera-công dụng cách dùng

DƯỚNG


Tên khoa học: Broussonetia papyrifera (L.) L'Hér. ex Vent.; thuộc họ Dâu tằm (Moraceae).
Mô tả: Cây to, cao 10-16m, cành non có nhiều lông tơ mềm. Lá mọc so le, phiến hình trứng dài 7-20cm, rộng 6-15cm, có mũi nhọn ngắn, gốc tù hay tròn, mép khía răng hay chia thuỳ không đều; mặt sau có lông dính; 3-5 gân gốc nổi rõ; cuống lớn, có lông mềm, lá kèm nhỏ, sớm rụng. Cụm hoa đực ở ngọn cành, dạng bông dài; cụm hoa cái hình đầu, nhiều hoa phủ đầy lông. Quả phức nạc, khi chín rất mềm, màu đỏ. Cây ra hoa tháng 5-8.
Bộ phận dùng: Quả (Fructus Broussonetiae), thường gọi là Chử thực tử. Lá, vỏ, cây và nhựa cũng được dùng.
Phân bố sinh thái:Cây mọc hoang trong rừng ở nhiều nơi của nước ta và cũng được trồng quanh các làng và làm cảnh.
Thu hái: Quả chín vào mùa hè, thu, rửa sạch, phơi khô. Nhựa cây, vỏ rễ và vỏ cây thu quanh năm. Lá thu hái vào mùa hè và thu, dùng tươi hay phơi sấy khô.
Thành phần hoá học:Có glucosid.
Tính vị, tác dụng:Quả có vị ngọt, tính hàn, có tác dụng bổ thận, thanh can, minh mục, lợi niệu. Lá có vị ngọt, tính bình, có tác dụng lợi tiểu, tiêu sưng. Nhựa cây có tác dụng sát trùng.
Công dụng, cách dùng:Quả dùng chữa cảm ho, lưng gối mỏi nhừ, nóng ở trong xương cốt, đầu choáng mắt mờ, mắt có màng mộng, phù thũng trướng nước. Liều dùng 9-15g. Lá dùng chữa viêm ruột, lỵ, thổ huyết, nôn ra máu, tử cung xuất huyết, vết thương chảy máu, Cũng dùng nấu nước xông trị cảm.
Liều dùng: Ngày 9-15g. Vỏ rễ dùng chữa phù thũng, đau mỏi cơ khớp, dùng 9-15g dạng thuốc sắc. Nhựa dùng ngoài trị viêm da thần kinh, nấm tóc, eczema, rắn cắn, sâu bọ đốt. Lá giã vắt nước uống có thể khỏi đổ máu mũi, trị bệnh lỵ. Lên đậu thì dùng lá để đắp làm cho đậu mau mọc. Quả, hạt là loại thuốc cường tráng, lại có công hiệu tiêu sưng phù, mạnh gân xương, sáng mắt, mạnh dạ dày. Vỏ cây có thể lợi tiểu, trị phù thũng, khí đầy. Nhựa của rễ có thể bôi các vết rắn cắn, ong đốt, rết và chó cắn. Cũng dùng chữa hắc lào.

Friday, 24 October 2014

ĐUÔI TRÂU-Albizia chinensis-cây thuốc nam

ĐUÔI TRÂU


Tên khác: Chu mè, Sống rắn Trung Quốc.
Tên khoa học: Albizia chinensis (Osbeck) Merr.; thuộc họ Đậu (Fabaceae).
Mô tả: Cây gỗ lớn cao 6m đến 30m; thân to đến hơn 1m; nhánh non có lông hoe. Lá kép lông chim 2 lần; lá kèm hình tim, cao 10-15mm; cuống chung dài 20cm; lá chét bậc hai (10-) 20-30 đôi, mọc đối, không cuống, dài 8-10mm, rộng 2-2,5mm, không cân xứng, hình thuôn mũi dùi, hơi có lông mềm trên cả hai mặt. Chuỳ hoa cao 10-20cm, có lông vàng, cuống hoa xếp thành bó 3-4 cái, thường có lá kèm có tai dài 1-3cm bao ở gốc, mang đầu hoa gồm 10-20 hoa không cuống. Quả đậu thuôn, dài 12-15cm, rộng 1,7-2cm, chứa 8-10 hạt hình bầu dục, nâu, dẹp, có kích thước 7x4,5x0,5-1mm. Cây ra hoa tháng 4.
Bộ phận dùng: Vỏ (Cortex Albiziae Chinensis)
Phân bố sinh thái:Loài của á châu nhiệt đới và á nhiệt đới: Ấn Độ, Xri lanca, Mianma, Trung Quốc, Thái Lan, Campuchia, Lào, Việt Nam và Indonesia (Java). Ở nước ta, cây thường mọc ở trong các rừng thường xanh và rụng lá, các savan, và dọc các bờ sông suối, giữa cao độ 200 và 1700m. Cũng có khi được trồng như cây che bóng trong các đồn điền cà phê và chè.
Thành phần hoá học:Có gôm, saponin.
Công dụng, cách dùng: Đồng bào dân tộc Dao dùng vỏ cây nấu nước gội đầu và dùng lớp vỏ nhớt nhai nuốt nước; lấy bã đắp chữa rắn cắn. Ở Ấn Độ, người ta dùng nước sắc của vỏ làm nước rửa vết cắt, ghẻ ngứa và bệnh ngoài da. Cây được dùng làm thuốc duốc cá.

DUỐI RỪNG-Streblus indicus-cây thuốc nam

DUỐI RỪNG


Tên khoa học: Streblus indicus (Bureau) Corner; thuộc họ Dâu tằm (Moraceae).
Tên đồng nghĩa: Pseudostreblus indicus Bureau 
Mô tả: Cây gỗ cao 5-15m, vỏ màu xám nâu, cành không lông. Lá có phiến thon, dài 6-15cm, rộng 2,5-4cm, đầu có mũi dài, gốc nhọn, hơi không cân, mép nguyên; cuống lá dài 1-2,5cm. Cụm hoa ở nách lá, đực cái cùng gốc; hoa đực mọc thành chùm, lá bắc 3, bao hoa 5 phiến, gần hình tròn, nhị 5; hoa cái đơn độc ở nách lá, có 4 lá bắc nhỏ, bao hoa 4-5 phiến, gần hình tròn, có lông mềm; bầu có vòi nhuỵ chia 2 nhánh, có lông.
Bộ phận dùng: Vỏ thân (Cortex Strebli Indicae).
Phân bố: Loài của Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Campuchia, Thái Lan, Malaysia và Việt Nam. Ở nước ta, có gặp ở rừng Kon Hà nừng thuộc tỉnh Gia Lai.
Tính vị, tác dụng:Vị đắng cay, tính ấm, có tác dụng cầm máu, chống đau, tiếp xương.
Công dụng, cách dùng:Ở Vân Nam (Trung Quốc), vỏ cây được dùng trị xuất huyết đường tiêu hoá và đau dạ dày, dùng ngoài trị ngoại thương xuất huyết, gãy xương, đòn ngã tổn thương.

DUỐI Ô RÔ-Cây gai quít, Duối núi-Streblus ilicifolius

DUỐI Ô RÔ


Tên khác: Cây gai quít, Duối núi.
Tên khoa học: Streblus ilicifolius (Vidal) Corner; thuộc họ Dâu tằm (Moraceae).
Tên đồng nghĩa: Taxotrophis ilicifolius Vidal
Mô tả: Cây nhỏ mọc thành bụi, có gai, rất nhẵn, với gai to, dài tới 25mm. Lá hình ngọn giáo hay thuôn, dài 3-10cm, rộng 2-4,5cm, nhọn ở gốc và nhọn nhiều hay ít ở đầu, dai, bóng ở trên, có răng dạng gai to, cuống dài 3-5mm. Hoa đực thành bông dày đặc, dài 1-4cm, rộng 4mm; hoa cái xếp 1-3 cái ở nách lá, không cuống. Quả có đường kính 8cm, bao bởi các lá đài đồng trưởng và nạc với vỏ quả ngoài mỏng và dễ vỡ. Hạt đơn độc, hình cầu, màu vàng vàng, có khía nâu.
Bộ phận dùng: Quả, vỏ (Fructus et Cortex Strebli llicifolii).
Phân bố sinh thái:Loài phân bố ở Mianma, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaixia, Indonesia, Philippin. Gặp ở nhiều nơi của nước ta, nhưng phổ biến ở miền Bắc Việt Nam, thường tạo thành những quần hệ nhỏ ở chân các thung lũng đá vôi, chân quèn, gặp từ Lạng Sơn, Hoà Bình, Hà Nội, Nam Hà, Ninh Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Đồng Nai tới thành phố Hồ Chí Minh.
Công dụng, cách dùng: Thường được trồng làm hàng rào. Quả chín cũng ăn được. Dân gian dùng vỏ cây làm thuốc tiêu độc mụn nhọt.

DUỐI LEO-Duối dây-Trophis scandens-cây thuốc nam

DUỐI LEO


Tên khác: Duối dây.
Tên khoa học: Trophis scandens (Lour.) Hook. & Arn.; thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).
Tên đồng nghĩa: Malaisia scandens (Lour.) Planch.
Mô tả: Dây leo dài 8m hay hơn, có nhựa mủ trắng, với nhánh mảnh, có lỗ bì, với các nhánh con hơi có lông lún phún. Lá thuôn, tròn hay hình tim ở gốc, đột ngột thót lại thành mũi nhọn ngăn ngắn, dài 7-11cm, rộng 3-4cm, nhẵn khi trưởng thành, nguyên hay chỉ hơi có răng, với gân lông chim; cuống lá dài 5-10mm. Hoa đơn tính khác gốc, các hoa đực thành đuôi sóc xếp 1-2 cái ở nách; các hoa cái rất nhiều, xếp thành đầu xoan, có cuống, dài 6mm. Quả 1-3 trên một cụm hoa, dạng trứng, lồi, dài 8mm, có vỏ quả mỏng dễ vỡ.
Bộ phận dùng: Lá (Folium Trophitis Scandentis).
Phân bố sinh thái:Loài phân bố ở Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaixia, Indonesia, Philippin, Tân Calêđôni, Ustralia. Ở nước ta, cây mọc hoang và cũng được trồng ở Quảng Ninh, Hà Bắc, Vĩnh Phú, Hoà Bình, Hà Tây, Hà Nội, Thanh Hoá, Quảng Trị, Quảng Nam-Đà Nẵng. Ninh Thuận.
Công dụng, cách dùng:Quả chín ăn được. Nước sắc lá dùng uống để gây nôn khi ăn phải thức ăn độc, cũng dùng chữa hậu sản. Ở Malaysia, nước sắc lá dùng làm trà uống cho phụ nữ sinh đẻ.

ĐUÔI CÔNG HOA TRẮNG-Bạch hoa xà, Cây lá đinh-Plumbago zeylanica

ĐUÔI CÔNG HOA TRẮNG


Tên khác: Bạch hoa xà, Cây lá đinh.
Tên khoa học: Plumbago zeylanica L.; thuộc họ Đuôi công (Plumbaginaceae).
Mô tả: Cây sống dai cao 0,3-0,6m, có gốc dạng thân rễ, với thân sù sì, bóng láng. Lá mọc so le, hình trái xoan, hơi có tai và ôm thân, nguyên, nhẵn, nhưng trăng trắng ở mặt dưới. Hoa màu trắng, thành bông ở ngọn và ở nách lá, phủ lông dính, tràng hoa dài gấp đôi đài. Cây ra hoa quả gần như quanh năm, chủ yếu vào tháng 5-6.
Bộ phận dùng: Rễ, lá (Radix et Folium Plumbaginis).
Phân bố sinh thái:Cây mọc tự nhiên ở Ấn Độ và Malaysia, nhưng thuần hoá và thường trồng trong tất cả các xứ nhiệt đới, nhất là ở Java (Indonesia). Ở nước ta, cây cũng được trồng nhiều trong các vườn gia đình; trồng bằng cành ở nơi ẩm mát.
Thu hái: Rễ, lá quanh năm. Rễ đào về, rửa sạch, cắt đoạn ngắn rồi phơi khô dùng dần. Lá thường được dùng tươi.
Thành phần hóa học:Trong cây có chất oxymethyl naphto quinon chính là plumbagin hay plumbagon. Chất này ức chế sự sinh trưởng của  các chủng vi khuẩn gram+ (Staphylococcus, StreptococcusPneumococcus).
Tính vị, tác dụng:Rễ có vị đắng, chát và gây nôn. Lá cay, có độc. Có tác dụng khu phong trừ thấp, tán ứ tiêu sưng; còn có thể thư cân hoạt huyết, làm sáng mắt. Plumbagin là một tác nhân làm viêm tấy và sát trùng tốt; nó kích thích mô cơ với liều thấp và làm tê liệt với liều cao, gây co thắt mô cơ của quả tim, ruột và giun ký sinh, kích thích sự tiết mồ hôi, nước tiểu và mật, còn có tác dụng kích thích đối với hệ thần kinh.
Công dụng, cách dùng:Ở Trung Quốc, thường dùng trị 1. Phong thấp đau nhức xương, da thịt thâm tím; 2. Đau dạ dày, gan lách sưng phù; 3. Bệnh ngoài da (hecpet mọc vòng), nhọt mủ, bong gân. Dùng rễ 10-15g đun sôi kỹ trong 4 giờ, lấy nước uống hoặc lấy rễ ngâm rượu xoa bóp. Dùng lá giã ra đắp vào phần da nhưng không nên kéo dài quá 30 phút vì dùng lâu thì da bị kích ứng, lên mụn bỏng. Người ta thường dùng một miếng giấy bản làm đệm hay lấy vải gạc lót để da đỡ bị phồng. Lá dùng đắp làm tiêu sưng mụn nhọt, lại có thể dùng trị rắn cắn và giã vắt nước bôi ghẻ ngứa. Kinh nghiệm dân gian dùng lá giã đắp chữa đinh nhọt rất đặc hiệu, do đó có tên là cây lá dính.
Ở Indonesia, cũng dùng chữa bệnh ngoài da, thấp khớp, nhức đầu, các bệnh về cơ quan tiết niệu và làm thuốc gây sẩy thai. Để chữa các bệnh ngoài da, người ta lấy lá và rễ giã ra trộn lẫn với bột gạo làm thuốc đắp. Để trị nhức đầu, chỉ cần dùng một lượng nhỏ thuốc đắp vào phía sau tai sẽ làm giảm đau.
Ở Philippin, nước sắc rễ dùng trị ghẻ.
Ở Ấn Độ, người ta dùng rễ trị các bệnh ngoài da, ỉa chảy, khó tiêu, bệnh trĩ, phù toàn thân, làm thành bột đắp với giấm, sữa hay muối và nước dùng đắp ngoài trị phong hủi và những bệnh ngoài da khác. Cồn thuốc của rễ cây có khả năng làm ra mồ hôi. Dịch sữa của cây dùng đắp trị ghẻ và mụn loét.
Ghi chú: Không dùng cho phụ nữ có thai. Nếu bị bỏng rộp, dùng acid boric để rửa chỗ da bị tổn thương.

ĐUÔI CÔNG HOA ĐỎ-Xích hoa xà-Plumbago indica

ĐUÔI CÔNG HOA ĐỎ


Tên khác: Xích hoa xà.
Tên khoa học: Plumbago indica L.; thuộc họ Đuôi công (Plumbaginaceae).
Mô tả: Cây có thân hoá gỗ nhiều hay ít, hơi khía dọc, nhẵn. Lá bầu dục - ngọn giáo, hầu như tù ở đầu, góc ôm thân, dài 10cm, rộng 4cm hay hơn. Hoa đỏ xếp thành những bông rất dài ở ngọn, đơn hoặc hơi phân nhánh ở phần phía trên; ống tràng mảnh, 4 lần dài hơn đài; 5 thuỳ trải ra; nhị 5; bầu bé, vòi nhuỵ chia thành 5 nhánh ở ngọn.
Bộ phận dùng: Rễ và lá (Radix et Folium Plumbaginis).
Phân bố sinh thái:Nguyên sản ở Ấn Độ, được trồng và thuần hoá ở các xứ nhiệt đới, nhất là ở các nước Đông Dương, thường gặp ở trạng thái hoang dại ở nhiều nơi.
Thu hái: Thân, lá, rễ quanh năm, thường dùng tươi.
Thành phần hoá học:Rễ chứa plumbagin là một oxymethyl naphtoquinin có tác dụng ức chế sự sinh trưởng của vi khuẩn.
Tính vị, tác dụng:Cũng như Đuôi công hoa trắng. Rễ khô có tác dụng điều kinh, kích thích tiêu hoá, thông hơi.
Công dụng, cách dùng:Cũng như Đuôi công hoa trắng, dùng làm thuốc chữa ho, chữa hắc lào, tê thấp, bệnh liệt, khó tiêu, trướng bụng. Ở Ấn Độ, rễ giã ra và lẫn với dầu mềm dùng như chất trương lực kích thích dùng trong điều trị chứng đau bại liệt và thấp khớp. Cũng được dùng uống trong trị các bệnh này. Rễ xem như có hiệu quả trong điều trị bệnh phong cùi, giang mai kỳ 2, ung thư và một số bệnh khác. Ở Thái Lan, rễ được dùng trị bệnh trĩ.

DUỐI CỎ-Fatoua villosa-cây thuốc nam

DUỐI CỎ


Tên khác: Dâu bích.
Tên khoa học: Fatoua villosa (Thunb.) Nakai; thuộc họ Dâu tằm (Moraceae).
Tên đồng nghĩa: Fatoua pilosa Gaudich., Fatoua japonica Blume
Mô tả: Cây thảo hàng năm, cứng ở gốc, cao 0,80m. Lá mọc so le, xoan, nhọn ở đầu, thành gốc, dạng màng, có lông ngắn, mép uốn lượn dạng răng, dài 3,5-6cm, rộng 1,5-3cm; cuống lá mảnh, hơi có lông nhung, dài 1-2,5cm. Cụm hoa ở nách lá thành xim co bị nén, gần như không cuống, đường kính 4mm, có hai loại hoa. Quả bế bao kín trong bao hoa, hình cầu dẹt. Cây có hoa từ tháng 10 đến tháng 3.
Bộ phận dùng: Rễ (Radix Fatouae Villosae).
Phân bố sinh thái:Loài phân bố ở Trung Quốc, Nhật Bản, Malaixia, Inđônêxia, Philippin, Ôxtrâylia và Việt Nam. Ở nước ta, cây mọc ở rừng ẩm trên triền núi cao các tỉnh Lạng Sơn, Hà Tây, Hoà bình, Nam Hà, Ninh Bình tới Ninh Thuận.
Công dụng, cách dùng:Rễ giã ra và sao lên sắc uống làm thuốc lọc máu cho phụ nữ sau khi sinh.

ĐUÔI CHUỘT-Stachytarpheta jamaicensis-cây thuốc nam

ĐUÔI CHUỘT


Tên khác: Mạch lạc, Giả mã tiên, Hải tiên.
Tên khoa học: Stachytarpheta jamaicensis (L.) Vahl; thuộc họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae).
Mô tả: Cây thảo sống nhiều năm, cao đến 2m. Thân màu lục tím, có 4 cạnh. Lá mọc đối, hình bầu dục, mép có răng, dài 3-8cm, rộng 2-4cm, cuống lá 2-5cm. Cụm hoa bông mọc đứng ở ngọn cây dài 20-40 cm, nom như cái đuôi chuột. Hoa gắn trong trục lõm; lá bắc của hoa cao 5-10mm, mép có răng; đài hoa có 5 răng; tràng hoa màu lơ (có khi trắng) chia 2 môi, dài 8-10mm; nhị thụt; bầu 2 ô. Quả nang cao 4-5mm, mang đài tồn tại chứa 2 hạt.
Bộ phận dùng:Toàn cây (Herba Stachytarphetae).
Phân bố sinh thái:Cây của Mỹ châu nhiệt đới, được phát tán vào nước ta, thường gặp mọc ở các bãi hoang, dọc đường đi và quanh làng xóm.
Thu hái: Toàn cây quanh năm. Rửa sạch, cắt khúc rồi phơi khô.
Thành phần hoá học:Trong cây có một chất glucosidic.
Tính vị, tác dụng:Đuôi chuột có vị đắng, tính lạnh; có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu viêm, lợi tiểu.
Công dụng, cách dùng:Thường dùng chữa 1. Nhiễm trùng đường tiết niệu; 2. Đau gân cốt do thấp khớp; 3. Viêm kết mạc cấp; viêm hầu; 4. Lỵ ỉa chảy; 5. Cảm lạnh, ho. Dùng 15-30g, dạng thuốc sắc. Dùng ngoài trị mụn nhọt và viêm mủ da, chấn thương bầm giập. Cây được dùng ở Brazin, dùng ngoài trị loét có mủ, dùng trong trị sốt và viêm thấp khớp, ở Guyana dùng trị lỵ.
Bài thuốc:
1. Viêm hầu họng: Đuôi chuột tươi, giã nát, thêm đường, dùng ngậm nuốt nước.
2. Chấn thương bầm giập:Đuôi chuột, Cỏ cứt lợn, mỗi thứ một ít, giã chung rồi đắp.
3. Mụn nhọt, viêm mủ da: Đuôi chuột 90g, Ngưu tất 60g, Bọ mắm 60g, giã chung và đắp ngoài.
4. Tẩy giun cho trẻ em: dùng nước sắc rễ Đuôi chuột, thêm nước ép lá (dịch lá) cho uống.

ĐUÔI CHỒN TÓC-Uraria crinita-cây thuốc nam

ĐUÔI CHỒN TÓC


Tên khác: Đuôi chó.
Tên khoa học: Uraria crinita (L.) DC.; thuộc họ Đậu (Fabaceae).
Mô tả: Cây nhỏ cao tới 1,5m. Lá có 3-5 lá chét hình trái xoan dài, tròn ở gốc, nhọn dần lại và tù, có mũi cứng ở đầu, nhẵn, sáng bóng, thường có vân trắng ở mặt trên, nhạt màu và hơi có lông mềm ở mặt dưới. Hoa màu tim tím, xếp thành chùm ở ngọn, hình trụ, dạng bông, dài 15-20 cm, rộng 20-30mm. Quả đậu đen bóng, có 3-5 đốt, đường kính 3mm. Cây ra hoa vào tháng 7-9.
Bộ phận dùng:Toàn cây (Herba Urariae Crinitae).
Phân bố: Cây của vùng Viễn Đông. Khá phổ biến khắp nước ta, thường thấy trong các thảm cỏ cây bụi khô, rừng tre từ Lào Cai đến Lâm Đồng; Vũng Tàu cho tới Tây Ninh.
Thu hái: Toàn cây vào mùa hè thu, rửa sạch, dùng tươi hay phơi khô.
Tính vị, tác dụng:Vị ngọt dịu, tính mát; có tác dụng tiêu viêm, cầm máu, sát trùng.
Công dụng, cách dùng:Lá có thể dùng làm rau ăn. Cây được dùng chữa: 1. Cảm lạnh, ho; 2. Bệnh giun chỉ và sốt rét; 3. Trẻ em biếng ăn và suy dinh dưỡng; 4. Nôn ra máu, ho ra máu, đi tiểu ra máu và các vết thương chảy máu.
Liều dùng: Ngày 30-50g, dạng thuốc sắc. Phụ nữ có thai kiêng dùng.
Ở Malaysia và Ấn Độ, rễ sắc nước uống dùng trị ỉa chảy. Cũng được sử dụng để trục giun và dùng cho trẻ em bị đầy hơi và phụ nữ sau khi sinh. Ở Inđônêxia, người ta dùng toàn cây chữa lỵ, ỉa chảy, lá lách sưng to, đau gan, rò, mụn mủ, bướu. Ở Ấn Độ, lá giã ra dùng ngoài đắp vào người khi bị sưng lách, sưng gan; hoa được dùng làm chế phẩm trị mụn xuất hiện sau bệnh đậu mùa.
Dân gian thường dùng, lá, hoa, rễ giã đắp mụn nhọt. Có tác giả cho là có thể trị tê thấp, bệnh về phổi.

ĐUÔI CHỒN NAM BỘ-Uraria cochinchinensis-cây thuốc nam

ĐUÔI CHỒN NAM BỘ


Tên khoa học: Uraria cochinchinensis Schindl.; thuộc họ Đậu (Fabaceae).
Mô tả: Cây dưới bụi cao 0,6-1m, thân có lông phún vàng vàng. Lá chét 1, mỏng, có lông, hình tim, dài 7-11cm, rộng 5-8cm, hình tim ở gốc, nhọn sắc ở đầu, có lông lún phún ở cả hai mặt, gân bên 8-10 đôi; cuống 3-7cm, cuống nhỏ 2-4mm; lá kèm hình dùi, dễ rụng. Cụm hoa chùm ngắn, 10-15cm, ít rậm, phân nhánh, rồi thưa, phủ lông trắng; hoa nhỏ khó thấy trong cả cụm hoa lởm chởm; cuống hoa 2mm, về sau dài tới 2cm trên quả; lá bắc mau rụng; đài hình chuông, có lông mi; tràng hoa vàng vàng; bầu có 3-5 noãn. Quả có 3-5 đốt hình mắt chim, hơi có lông mềm, màu nâu, đốt hình khiên, hạt hình tim, 2,5mm.
Bộ phận dùng:Toàn cây (Herba Urariae Cochinchinensis)
Phân bố sinh thái:Loài gặp ở Campuchia, Lào và Việt Nam. Ở nước ta, cây mọc trên đất có đá, trong các rừng thông tới độ cao 500m, từ Ninh Thận (Cà Ná) tới Bà Rịa (Núi Dinh).
Công dụng, cách dùng:Ở Ninh Thuận, người ta sử dụng cây này trong y học dân gian, được xem như có tác dụng lọc máu.