Showing posts with label Typhaceae. Show all posts
Showing posts with label Typhaceae. Show all posts

Thursday, 29 August 2013

CỎ NẾN LÁ HẸP-Typha angustifolia-cây thuốc nam chữa bế kinh

CỎ NẾN LÁ HẸP


Tên khác: Cỏ nến lá hẹp, Bồn bồn, Thủy hương, Bồ hoàng.
Tên khoa học: Typha angustifolia L.; thuộc họ Cỏ nến (Typhaceae).
Mô tả: Cây mọc ở đầm lầy, sống nhiều năm, có thân rễ bò, thân đứng cao 1-2 m. Lá đứng, hẹp dài 30-60cm, rộng 4-10mm; cứng, gốc có bẹ ôm thân. Bông đực trên bông cái hình cây hương; hoa trần; hoa cái có lông mảnh trên trụ nhụy dài, có hoa lép, hoa đực có phiến hoa như sợi, thường có 3 nhị. Quả bế nhỏ, dài. Cây thường ra hoa vào tháng 3-7. 
Bộ phận dùng:Phấn hoa (Pollen Typhae), thường có tên là Bồ hoàng.
Phân bố sinh thái:Cây mọc ở ruộng, đầm lầy, ven sông rạch nước ngọt, có khi tạo thành đám rộng, còn gặp trên bùn có nước lợ. Người ta cũng thu hái hoa, nghiền ra lấy phấn hoa.
Thành phần hoá học:Trong phấn hoa có n-pentacosane, acid béo.
Tính vị, tác dụng:Bồ hoàng có vị ngọt, tính bình; dùng sống thì có tác dụng hoạt huyết, hành ứ, lợi tiểu, sao giòn thì có tác dụng thu sáp, cầm máu.
Công dụng: Ngó và lá non muối làm dưa chua ăn ngon. Có thể lấy ngó non luộc ăn, nấu canh hay xào ăn. Hạt chà sạch vỏ dùng nấu cháo ăn như kê. Lông ở hoa cái dùng làm gối đệm. Còn phấn hoa dùng làm thuốc chữa kinh nguyệt bế sinh đau bụng, đau ngực, thông tiểu tiện (dùng sống), trị ho ra máu, chảy máu cam, đái ra máu (sao đen).
Liều dùng: Ngày dùng 5-8g.

CỎ NẾN-Typha angustata-cây thuốc nam chữa nôn ra máu

CỎ NẾN


Tên khác: Bồn bồn, Hương bồn thảo, Thủy hương.
Tên khác: Typha angustata Bory & Chaub.; thuộc họ Cỏ nến (Typhaceae).
Mô tả: Cây thảo cao 1-3m, có thân rễ lưu niên. Lá mọc từ gốc, hẹp, hình dải, thon lại ở chóp, dài 6-15cm, xếp thành 2 dãy đứng quanh thân, bằng hay hơi dài hơn bông hoa đực. Hoa đơn tính, rất nhiều, thành bông rất dày, đặc, hình trụ, có lông tơ, cách quãng nhau 0,6-5,5cm, có chiều dài gần như nhau, bông đực ở ngọn, có lông màu nâu, có răng ở chóp, vàng; bông cái màu nâu nhạt, có lông nhiều, mảnh, trắng hoặc màu hung nhạt. Quả dạng gần quả hạch, nhỏ, hình thoi, khi chín mở theo chiều dọc.
Bộ phận dùng:Phấn hoa (Pollen Typhae), thường có tên là Bồ hoàng.
Phân bố sinh thái:Cây mọc ở các chỗ ẩm lầy một số nơi ở miền Bắc Việt Nam, như ở Sa Pa (Lào Cai) hay ở Gia Lâm (Hà Nội). Còn phân bố ở Ấn Ðộ, Trung Quốc và Nhật Bản. Người ta dùng phấn hoa của các hoa đực đã phơi khô. Chọn ngày lặng gió, cắt bông hoa, phơi khô (nếu trời râm phải tãi ra, tránh ủ nóng làm biến chất). Dùng cối nghiền, sàng sạch lông và tạp chất, rây lấy bột nhỏ, phơi khô để dùng.
Thành phần hoá học:Hạt phấn chứa 30% chất béo, trong đó có acid palmitic; còn có isorhamnetin.
Tính vị, tác dụng:Vị ngọt nhạt, tính bình. Ðể sống thì có tác dụng lợi tiểu, giảm đau, tiêu viêm, tiêu ứ huyết, thông huyết ứ, kinh bế. Sao đen có tác dụng cầm máu, bổ huyết. Còn có tác dụng làm co bóp dạ con. Ở Ấn Ðộ, gốc rễ được sử dụng làm thuốc săn da và lợi tiểu.
Công dụng: Từ thời Thượng Cổ, ở nhiều nước, người ta đã dùng phấn hoa Cỏ nến làm thuốc lợi tiểu và săn da. Nay thường được dùng trị ho ra máu, nôn ra máu, chảy máu cam, băng huyết, có thai ra huyết (sao đen sắc uống), chữa bạch đới, ứ huyết do vấp ngã hoặc đánh đập tổn thương.
Liều dùng, cách dùng:Ngày dùng 5-10g, dạng thuốc sắc hay thuốc bột.
Bài thuốc:
1.    Chữa tổn thương hoặc bị chấn thương ứ máu trong bụng: dùng Bồ hoàng 5g, Cao ban long 4g, Cam thảo 2g, nước 600ml. Sắc còn 200ml, chia làm 2-3 lần uống trong ngày.
2. Chữa thổ huyết: Bồ hoàng sao 80g, uống mỗi lần 4-8g.
3. Chữa chảy máu mũi: Bồ hoàng sao và Thanh đại mỗi vị 4g uống.
4. Chữa khạc ra máu: Bồ hoàng sao, lá Sen khô, bằng nhau, tán nhỏ, uống mỗi lần 8-12g với nước sắc vỏ rễ cây Dâu làm thang.
5. Chữa đại tiện ra máu: Bồ hoàng sao, lá Sen tươi, Củ cải tán bột, uống mỗi lần 4-8g với nước cơm.
6. Chữa kinh nguyệt không đều, đau bụng và rong huyết không dứt: Bồ hoàng sao, lá Lốt tẩm nước muối sao, tán nhỏ, luyện với mật làm viên bằng hạt đậu xanh, uống mỗi lần 30 viên với nước cơm.
7. Chữa sau khi đẻ, máu hôi ra không hết, sinh đau bụng: dùng Bồ hoàng sao qua giấy, uống mỗi lần 4g với nước.