Showing posts with label Moraceae. Show all posts
Showing posts with label Moraceae. Show all posts

Saturday, 1 November 2014

GỪA-Ficus microcarpa-Si quả nhỏ

GỪA


Tên khác: Si quả nhỏ.
Tên khoa học: Ficus microcarpa L.f.; thuộc họ Dâu tằm (Moraceae).
Mô tả: Cây gỗ lớn, cao tới 25m, lúc nhỏ phụ sinh, có rễ khí sinh treo từ nhánh cao. Lá dày láng, dài 6-20cm, chóp thường tròn, gốc có ba gân; lá kèm có lông trắng lúc non; cuống lá 1,5-3,5cm. Quả dạng sung ở nách lá, không cuống, vàng có sọc đỏ, cỡ 1cm. Cây ra hoa quả tháng 5-6
Bộ phận dùng: Rễ khí sinh và lá (Radix Adventiva et Folium Fici Microcarpae).
Nơi sống và thu hái: Loài của Ấn Độ, Lào, Campuchia, Xri Lanka, Malaysia, Indonesia, Australia. Ở nước ta cây thường gặp ở vùng có thủy triều, cũng gặp mọc dựa bờ rạch. Cây được trồng ở  Hà Nội, Ninh Bình, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam-Ðà Nẵng, Sông Bé, Bà Rịa-Vũng Tàu.
Thu hái: Rễ và lá quanh năm, rửa sạch và phơi khô.
Tính vị, tác dụng:Gừa có vị hơi đắng và se, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, kháng sinh, làm ra mồ hôi và lợi tiểu.
Công dụng, cách dùng:Rễ khí sinh dùng chữa cảm mạo, sốt cao, viêm amygdal, đau nhức khớp xương, đòn ngã tổn thương.
Liều dùng: Ngày dùng 15-30g, dạng thuốc sắc. Lá dùng chữa cúm, viêm khí quản ho gà, sốt rét, viêm ruột cấp, lỵ. Ngày dùng 5-12g, dạng thuốc sắc.
Bài thuốc:
1. Dự phòng cúm:Lá Gừa, lá Bạch đàn, đều 30g, sắc uống.
2. Viêm amygdal:Rễ Gừa 180g, nấu với nước và một bát giấm, dùng súc miệng nhiều lần trong ngày.
3. Viêm ruột cấp, lỵ:Lá Gừa tươi 500g sắc nước, chia làm 2 lần uống trong ngày.
4. Viêm khí quản mạn:Lá Gừa tươi 75g, vỏ quýt 18g sắc nước chia 3 lần uống sáng, trưa, chiều. Liên tục trong 10 ngày.

Sunday, 26 October 2014

DƯỚNG NHỎ-Broussonetia kazinoki-cây thuốc nam

DƯỚNG NHỎ


Tên khác: Dướng leo.
Tên khoa học: Broussonetia kazinoki Siebold; thuộc họ Dâu tằm (Moraceae).
Mô tả: Cây nhỏ cao 2-4m, cành mảnh, có nhựa mủ. Lá mọc so le, hình thuôn, dài 6-12cm, rộng 2-5cm, đầu có đuôi dài 1-1,5cm, gốc hình tim, hai mặt lá có lông nhám; gân từ gốc 3, chạy đến 1/3 phiến, mép có răng nhỏ; cuống dài 1cm; lá kèm nhọn, cao 5mm, sớm rụng. Bông đực cao 1,5cm, lá đài 4, nhị 4; cụm hoa cái dạng đầu 8-10mm, trên cuống 1cm; hoa cái có vòi nhuỵ dài. Cây ra hoa tháng 2-5, quả tháng 3-6.
Bộ phận dùng: Rễ, lá (Radix et Folium Broussonetiae).
Phân bố sinh thái:Loài của Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam. Ở nước ta, cây phân bố từ Sơn La, Tuyên Quang, Hoà Bình tới Hà Nội, Ninh Bình và Quảng Ninh, thường mọc dại trong rừng thứ sinh.
Tính vị, tác dụng:Rễ lá có tác dụng thanh lương giải độc.
Công dụng, cách dùng:Ở Trung Quốc, rễ và lá được dùng làm thuốc trị đòn ngã tổn thương. Vỏ cây cũng được dùng làm sợi.

Saturday, 25 October 2014

DƯỚNG-Broussonetia papyrifera-công dụng cách dùng

DƯỚNG


Tên khoa học: Broussonetia papyrifera (L.) L'Hér. ex Vent.; thuộc họ Dâu tằm (Moraceae).
Mô tả: Cây to, cao 10-16m, cành non có nhiều lông tơ mềm. Lá mọc so le, phiến hình trứng dài 7-20cm, rộng 6-15cm, có mũi nhọn ngắn, gốc tù hay tròn, mép khía răng hay chia thuỳ không đều; mặt sau có lông dính; 3-5 gân gốc nổi rõ; cuống lớn, có lông mềm, lá kèm nhỏ, sớm rụng. Cụm hoa đực ở ngọn cành, dạng bông dài; cụm hoa cái hình đầu, nhiều hoa phủ đầy lông. Quả phức nạc, khi chín rất mềm, màu đỏ. Cây ra hoa tháng 5-8.
Bộ phận dùng: Quả (Fructus Broussonetiae), thường gọi là Chử thực tử. Lá, vỏ, cây và nhựa cũng được dùng.
Phân bố sinh thái:Cây mọc hoang trong rừng ở nhiều nơi của nước ta và cũng được trồng quanh các làng và làm cảnh.
Thu hái: Quả chín vào mùa hè, thu, rửa sạch, phơi khô. Nhựa cây, vỏ rễ và vỏ cây thu quanh năm. Lá thu hái vào mùa hè và thu, dùng tươi hay phơi sấy khô.
Thành phần hoá học:Có glucosid.
Tính vị, tác dụng:Quả có vị ngọt, tính hàn, có tác dụng bổ thận, thanh can, minh mục, lợi niệu. Lá có vị ngọt, tính bình, có tác dụng lợi tiểu, tiêu sưng. Nhựa cây có tác dụng sát trùng.
Công dụng, cách dùng:Quả dùng chữa cảm ho, lưng gối mỏi nhừ, nóng ở trong xương cốt, đầu choáng mắt mờ, mắt có màng mộng, phù thũng trướng nước. Liều dùng 9-15g. Lá dùng chữa viêm ruột, lỵ, thổ huyết, nôn ra máu, tử cung xuất huyết, vết thương chảy máu, Cũng dùng nấu nước xông trị cảm.
Liều dùng: Ngày 9-15g. Vỏ rễ dùng chữa phù thũng, đau mỏi cơ khớp, dùng 9-15g dạng thuốc sắc. Nhựa dùng ngoài trị viêm da thần kinh, nấm tóc, eczema, rắn cắn, sâu bọ đốt. Lá giã vắt nước uống có thể khỏi đổ máu mũi, trị bệnh lỵ. Lên đậu thì dùng lá để đắp làm cho đậu mau mọc. Quả, hạt là loại thuốc cường tráng, lại có công hiệu tiêu sưng phù, mạnh gân xương, sáng mắt, mạnh dạ dày. Vỏ cây có thể lợi tiểu, trị phù thũng, khí đầy. Nhựa của rễ có thể bôi các vết rắn cắn, ong đốt, rết và chó cắn. Cũng dùng chữa hắc lào.

Friday, 24 October 2014

DUỐI RỪNG-Streblus indicus-cây thuốc nam

DUỐI RỪNG


Tên khoa học: Streblus indicus (Bureau) Corner; thuộc họ Dâu tằm (Moraceae).
Tên đồng nghĩa: Pseudostreblus indicus Bureau 
Mô tả: Cây gỗ cao 5-15m, vỏ màu xám nâu, cành không lông. Lá có phiến thon, dài 6-15cm, rộng 2,5-4cm, đầu có mũi dài, gốc nhọn, hơi không cân, mép nguyên; cuống lá dài 1-2,5cm. Cụm hoa ở nách lá, đực cái cùng gốc; hoa đực mọc thành chùm, lá bắc 3, bao hoa 5 phiến, gần hình tròn, nhị 5; hoa cái đơn độc ở nách lá, có 4 lá bắc nhỏ, bao hoa 4-5 phiến, gần hình tròn, có lông mềm; bầu có vòi nhuỵ chia 2 nhánh, có lông.
Bộ phận dùng: Vỏ thân (Cortex Strebli Indicae).
Phân bố: Loài của Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Campuchia, Thái Lan, Malaysia và Việt Nam. Ở nước ta, có gặp ở rừng Kon Hà nừng thuộc tỉnh Gia Lai.
Tính vị, tác dụng:Vị đắng cay, tính ấm, có tác dụng cầm máu, chống đau, tiếp xương.
Công dụng, cách dùng:Ở Vân Nam (Trung Quốc), vỏ cây được dùng trị xuất huyết đường tiêu hoá và đau dạ dày, dùng ngoài trị ngoại thương xuất huyết, gãy xương, đòn ngã tổn thương.

DUỐI Ô RÔ-Cây gai quít, Duối núi-Streblus ilicifolius

DUỐI Ô RÔ


Tên khác: Cây gai quít, Duối núi.
Tên khoa học: Streblus ilicifolius (Vidal) Corner; thuộc họ Dâu tằm (Moraceae).
Tên đồng nghĩa: Taxotrophis ilicifolius Vidal
Mô tả: Cây nhỏ mọc thành bụi, có gai, rất nhẵn, với gai to, dài tới 25mm. Lá hình ngọn giáo hay thuôn, dài 3-10cm, rộng 2-4,5cm, nhọn ở gốc và nhọn nhiều hay ít ở đầu, dai, bóng ở trên, có răng dạng gai to, cuống dài 3-5mm. Hoa đực thành bông dày đặc, dài 1-4cm, rộng 4mm; hoa cái xếp 1-3 cái ở nách lá, không cuống. Quả có đường kính 8cm, bao bởi các lá đài đồng trưởng và nạc với vỏ quả ngoài mỏng và dễ vỡ. Hạt đơn độc, hình cầu, màu vàng vàng, có khía nâu.
Bộ phận dùng: Quả, vỏ (Fructus et Cortex Strebli llicifolii).
Phân bố sinh thái:Loài phân bố ở Mianma, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaixia, Indonesia, Philippin. Gặp ở nhiều nơi của nước ta, nhưng phổ biến ở miền Bắc Việt Nam, thường tạo thành những quần hệ nhỏ ở chân các thung lũng đá vôi, chân quèn, gặp từ Lạng Sơn, Hoà Bình, Hà Nội, Nam Hà, Ninh Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Đồng Nai tới thành phố Hồ Chí Minh.
Công dụng, cách dùng: Thường được trồng làm hàng rào. Quả chín cũng ăn được. Dân gian dùng vỏ cây làm thuốc tiêu độc mụn nhọt.

DUỐI CỎ-Fatoua villosa-cây thuốc nam

DUỐI CỎ


Tên khác: Dâu bích.
Tên khoa học: Fatoua villosa (Thunb.) Nakai; thuộc họ Dâu tằm (Moraceae).
Tên đồng nghĩa: Fatoua pilosa Gaudich., Fatoua japonica Blume
Mô tả: Cây thảo hàng năm, cứng ở gốc, cao 0,80m. Lá mọc so le, xoan, nhọn ở đầu, thành gốc, dạng màng, có lông ngắn, mép uốn lượn dạng răng, dài 3,5-6cm, rộng 1,5-3cm; cuống lá mảnh, hơi có lông nhung, dài 1-2,5cm. Cụm hoa ở nách lá thành xim co bị nén, gần như không cuống, đường kính 4mm, có hai loại hoa. Quả bế bao kín trong bao hoa, hình cầu dẹt. Cây có hoa từ tháng 10 đến tháng 3.
Bộ phận dùng: Rễ (Radix Fatouae Villosae).
Phân bố sinh thái:Loài phân bố ở Trung Quốc, Nhật Bản, Malaixia, Inđônêxia, Philippin, Ôxtrâylia và Việt Nam. Ở nước ta, cây mọc ở rừng ẩm trên triền núi cao các tỉnh Lạng Sơn, Hà Tây, Hoà bình, Nam Hà, Ninh Bình tới Ninh Thuận.
Công dụng, cách dùng:Rễ giã ra và sao lên sắc uống làm thuốc lọc máu cho phụ nữ sau khi sinh.

Thursday, 23 October 2014

DUỐI-Streblus asper-cây thuốc nam

DUỐI


Tên khác: Ruối, Duối nhám.
Tên khoa học: Streblus asper Lour.; thuộc họ Dâu tằm (Moraceae).
Mô tả: Cây nhỏ, cao 4-5m. Thân và cành khúc khuỷu. Lá mọc so le, hình trứng, cứng, ráp, mép khía răng. Hoa đơn tính khác gốc. Cụm hoa đực dạng đầu có cuống, đính ở dưới những cành ngắn, gồm 10-12 hoa. Cụm hoa cái chỉ có 1 hoa. Quả mọng màu vàng, gắn trên đài tồn tại. Mùa hoa quả tháng 6-11.
Bộ phận dùng: Vỏ rễ, vỏ thân, lá và mủ (Cortex Radicis, Cortex, Folium et Latex Strebli Aspris).
Phân bố: Loài của Ấn Độ, Srilanca, Mianma, Nam Trung Quốc, Thái Lan, Campuchia, Malaixia, Indonesia, Philippin và Việt Nam. Ở nước ta, cây mọc hoang ở vùng đồi núi và thường được trồng làm hàng rào ở khắp nơi; trồng bằng gieo hạt hoặc bằng cành. Thu hái các bộ phận của cây quanh năm; mủ dùng tươi, các bộ phận khác rửa sạch, thái ngắn, phơi khô, sao vàng.
Thành phần hoá học:Trong mủ có nhựa và một ít cao su; ở mủ đông đặc, tỷ lệ nhựa là 76%, cao su là 23%. Nhựa có tác dụng làm đông mủ. Vỏ chứa một chất đắng, còn có một glucosid là streblosid.
Tính vị, tác dụng:Duối có vị đắng, chát, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, thông huyết, cầm máu, sát trùng. Người ta nhận thấy chất đắng của vỏ có tác dụng đối với cơ tim tương tự như adrenalin. Streblosid có thể so sánh với digitoxin.
Công dụng: Quả chín ăn ngọt và thơm. Lá Duối dùng để đánh bóng đồ gỗ. Gỗ mịn, trắng, mềm, đẹp thường dùng để khắc dấu, tiện đồ đạc. Vỏ chứa nhiều xơ dùng dệt túi, làm nguyên liệu chế bông nhân tạo và làm giấy. Lá làm thức ăn cho gia súc. Nhiều bộ phận được dùng làm thuốc: 1. Lá Duối: chữa trâu bò đau bụng ỉa chảy và xoa bóp chữa bại liệt; còn dùng chữa nắng nóng. Lá sao vàng chữa băng huyết, kiết lỵ. Lá non giã đắp trị vết thương chảy máu (thêm ít vôi tôi). 2. Nhựa mủ Duối dùng dán hai bên thái dương chữa nhức đầu; cũng dùng chữa đinh sang, lở chốc; 3. Vỏ Duối dùng chữa sâu răng, đau bụng, sốt, đi ỉa chảy, lỵ, trị được ho và lao phổi, phong thấp đau nhức, chó dữ cắn và đắp bó chữa gẫy xương; 4. Cành và rễ thái mỏng sắc uống làm thuốc thông tiểu chữa bụng trướng. Vỏ rễ chữa đái đục, bí đái.
Liều dùng: Ngày dùng 12-20g dưới dạng thuốc sắc để uống và ngậm. Dùng ngoài lấy lượng vừa đủ. Ở Ấn Độ, nước sắc vỏ dùng chữa sốt, lỵ và ỉa chảy. Rễ dùng đắp trị mụn nhọt mưng mủ và viêm; cũng dùng trị rắn cắn. Nhựa mủ sát trùng, làm se, dùng đắp nứt nẻ ở tay và ở gót chân.
Bài thuốc:
1. Chữa phù thũng: Dùng lá Duối 12g, vỏ Bưởi (sao vàng) 12g, vỏ Quýt 12g, cây Bố rừng 12g, vỏ Tỏi 10g, củ Sả 10g. Đổ 600ml nước sắc còn 200ml, uống mỗi thang 2 nước trong 1 ngày.
2. Đái đục: Dùng vỏ rễ Duối, vỏ rễ Nhót, mỗi vị 20g, sắc uống.
3. Sâu răng: Dùng vỏ Duối sắc đặc ngâm.
4. Bó gãy xương:Dùng vỏ Duối giã nhỏ với lá Thanh táo, dây Tơ hồng và Chuối tiêu đắp bó.

Friday, 28 February 2014

ĐỀ

ĐỀ

Tên khác: Đề hay Đa bồ đề
Tên khoa học: Ficus religiosa L., thuộc họ Dâu tằm (Moraceae).
Mô tả: Cây gỗ lớn, hoàn toàn nhẵn. Lá hình thoi - tam giác, cụt hay hơi hình tim ở gốc, hầu như tù và đột nhiên thành đuôi ở chóp dài 2-3cm, mỏng, giòn, dài 7-12cm, rộng 7-10cm; cuống mảnh, dài 5-8 cm. Quả dạng sung, xếp 1-2 cái trên các nhánh có lá, không cuống, hình cầu, đường kình 7-8mm, lúc chín có màu đỏ đậm. Hoa quả tháng 1-4.
Bộ phận dùng: Vỏ cây, quả, lá (Cortex, Ficus et Folium Fici Religiosae).
Phân bố và thu hái:Gốc ở Ấn Độ, trồng ở đồng bằng và vùng núi, thường trồng ở các đình chùa, các chợ, công viên.
Thành phần hoá học:Vỏ cây chứa 4% tanin. Mủ chứa nhựa; trong mủ đông khô có 85% nhựa và 12% cao su.
Tính vị, tác dụng:Vỏ làm săn da; quả nhuận tràng, làm toát mồ hôi, trấn kinh; hạt làm mát, giải nhiệt; lá và nhánh non xổ. Nước chiết vỏ có tác dụng ngăn cản hoạt động của các vi khuẩn Staphylococcus và Escherichia coli.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Vỏ thân được dùng ở Trung Quốc làm thuốc súc miệng chữa đau răng và làm chắc răng. Ở Ấn Độ, người ta dùng vỏ trị bệnh lậu. Ta thường dùng vỏ cây nấu nước rửa chữa lở loét và bệnh ngoài da. Ở Ấn Độ, nước pha vỏ dùng uống trong trị bệnh ghẻ. Vỏ cây có thể dùng thay chay để ăn với trầu. Quả (cụm hoa) dùng giải nhiệt, làm dễ tiêu hoá; hạt giúp giải khát. Lá và nhánh non gây tẩy, nhưng dịch lá tươi lại trừ được ỉa chảy và cả trong trường hợp nghi là dịch tả, mỗi lần dùng 1 thìa cà phê dịch tươi và đường, cách 2 giờ lại uống cho đến khi hết nôn tháo ra.

ĐA

ĐA

Tên khác:Đa,  Đa tía, Đa tròn
Tên khoa học: Ficus altissima Blume, thuộc họ Dâu tằm (Moraceae).
Mô tả; Cây gỗ cao 25m, có nhánh to, nhẵn. Lá mọc so le cứng hay hơi dai, hoàn toàn nhẵn, dài 4-16cm, rộng 4-8cm, có 3-5 gân gốc; cuống khá to, hơi hẹp, có rãnh, dài 2,5-3,5cm. Quả sung trên những nhánh có lá, hình trứng, không cuống, dài 2cm, rộng 1,5cm, khi chín màu tím. Mùa hoa quả tháng 2-5.
Bộ phận dùng: Nhựa mủ và rễ phụ, (Latex et Radix Adventiva Fici Altissimae).
Phân bố và thu hái:Loài phân bố ở Ấn Độ,  Mianma, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia, Philippin và Việt Nam. Cây mọc khắp nơi ở nước ta, từ vùng thấp cho tới vùng cao, đến độ cao 1500m, và cũng thường được trồng lấy bóng mát ở các tỉnh Lạng Sơn, Vĩnh Phú, Hà Nội, Hà Tây, Ninh Bình, Thanh Hoá, Quảng Trị, Gia Lai, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Sông Bé, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh.
Thành phần hoá học:Mủ cây chứa rất nhiều nhựa, mủ cô lại chứa 65% nhựa và 30% cao su.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Loài này được A. Pételot nêu lên vì giá trị của nhựa có thể dùng như nhựa của những loài khác. Ở Trung Quốc, rễ phụ được dùng làm thuốc thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết, giảm đau.

Saturday, 15 February 2014

DÂU TÀU

DÂU TÀU

Tên khác: Dâu tàu, Dâu Úc
Tên khoa học: Morus australis Poir. (M. acidosa Griff.), thuộc họ Dâu tằm (Moraceae).
Mô tả: Cây to có thể cao đến 15m, nhưng do trồng trọt và cắt tỉa mà có dạng cây nhỡ 2-3m, cành yếu. Lá có phiến thon xoan dài 6-15cm, rộng 4-10cm, gốc hình tim cạn, có khi chia 3-5 thuỳ, mỏng, không lông, gân gốc 3, mép có răng, có chai ở đầu; cuống lá ngắn, lá kèm 5mm. Bông đuôi sóc thòng, bông đực dài 2cm, bông cái dài 1cm. Hoa mẫu 4, bầu 2 vòi nhuỵ dài 1,5mm, dính nhau. Quả to đậm, gần như đen. Mùa hoa tháng 5-7.
Bộ phận dùng: Quả, vỏ, lá, rễ (Fructus, Cortex, Folium et Radix Mori Australis).
Phân bố và thu hái:Cây của Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan Lào, Campuchia, Malaixia, Inđônêxia, Ôxtrâylia. Được trồng ở khắp cả nước ta lấy lá mỏng dùng nuôi tằm. Các bộ phận của cây dùng làm thuốc thu hái quanh năm. Quả hái khi chín.
Thành phần hoá học:Lá giàu các acid amin, phenylalanin, leucin, alanin, arginin, sarcosin, acid pipecolic. Lá cũng chứa các protein, các vitamin C, B, D, các acid hữu cơ: succinic, propionic, isobutyric, còn có tanin. Quả có đường, protid, tanin, và vitamin C.
Tính vị, tác dụng:Ở Ấn Độ, người ta cho biết một số tính chất và tác dụng của các bộ phận. Quả, thân giải nhiệt, nhuận tràng, giải khát, làm dịu cơn sốt; vỏ trị giun và xổ; lá sắc làm nước súc miệng khi bị viêm thanh quản; rễ trị giun và làm se.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Người ta thường dùng lá làm tăng sự tiết chữa cảm, ho, mất ngủ. Liều dùng 6-18g, dạng thuốc sắc rễ chữa hen suyễn, tiểu tiện ít, thấp khớp, đau nhức xương. Liều dùng 6-12g, dạng thuốc sắc. Quả dùng chữa thiếu máu, mắt mờ; ngày dùng 12-20 quả ngâm rượu hoặc nước dùng uống. Xirô quả chín dùng bôi chữa đau họng, lở miệng lưỡi.
Ghi chú: Ta còn dùng vài loài khác:
- Morus cathayanaHemsl. f. culta Gagnep; thường gọi là bầu, thuộc loại cây gỗ lớn, có lá hình tim, mép có răng; bông cái dài 2,5cm, quả vàng giữa bao hoa phù, màu đỏ chói. Trồng ở Bà Rịa. Bến Tre.
- Morus macrouraMiq., thường gọi là Dâu chùm dài hay Dâu quả dài, thuộc loại cây gỗ lớn, với lá hình tim rộng có răng thấp; bông cái dài 4-12cm; quả vàng nhạt. Trồng ở Nghệ An và Hoà Bình.

Friday, 14 February 2014

ĐẦU MƯA

ĐẦU MƯA

Tên khác: Ðầu nưa
Tên khoa học: Dorstenia contrajerva L., thuộc họ Dâu tằm (Moraceae).
Mô tả: Cây thảo sống nhiều năm nhờ củ tròn tròn. Lá chụm ở đất, phiến hình tim thon có thuỳ khá sâu, nhám. Cụm hoa trên một cuống dài; đế phẳng, vuông dài, mang hoa đực và hoa cái. Hoa đực có đài dính, nhị 2; hoa cái lõm sâu, 2 đầu nhuỵ. Quả bế nhỏ.
Bộ phận dùng: Rễ (Radix Dorsteniae).
Phân bố và thu hái:Gốc ở Trung Mỹ, được nhập trồng ở Thảo cầm viên và các vườn cảnh ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Thành phần hoá học:Rễ chứa cajupin, contrayerlin.
Tính vị, tác dụng:Có tác dụng kích thích và làm ra mồ hôi.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Rễ được dùng trị nọc rắn (Theo Phạm Hoàng Hộ).


Thursday, 13 February 2014

DÂU BẦU ĐEN

DÂU BẦU ĐEN

Tên khác: Dâu bầu đen, Dâu quả đen
Tên khoa học: Morus nigra L., thuộc họ Dâu (Moraceae).
Mô tả: Cây nhỡ có vỏ xám đậm; cành non có lông tơ, phiến xoan thon, to 6-12 x 6-12cm, gốc tròn hay cắt hoặc hơi lõm, cả hai mặt màu lục đậm, mặt dưới có lõi, cuống có lông. Hoa khác gốc; hoa đực thành bông dài 2cm, đài 4, nhị 4; bông cái như hoa đầu; hoa cái có lá đài có lởm chởm ở mép, vòi nhuỵ dài, gần như rời nhau. Quả lớn quả Dâu tằm, màu đỏ đen đen.
Bộ phận dùng: Quả, vỏ (Fructus et Cortex Mori Nigra).
Phân bố và thu hái:Cây thường trồng lấy quả to ăn ngon nhưng lá cứng nên tằm không thích ăn. Thu hái quả lúc thu hái vỏ cây quanh năm.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Ở Ấn Độ, người ta dùng Dâu bầu đen làm thuốc bổ dưỡng, làm mát, nhuận tràng, giải khát, mát máu, vỏ dùng xổ và trị giun. Ở Bắc Phi, có nơi người ta dùng rễ nước làm thuốc súc miệng trị đau răng.

DÂU

DÂU

Tên khác: Dâu, Dâu tằm
Tên khoa học: Morus alba L., thuộc họ Dâu tằm (Moraceae).
Mô tả: Cây gỗ lớn cao tới 15m, màu nâu hay vàng vàng. Lá mọc so le, phiến xoan dài 5-10 (20)cm rộng 4-8cm, gốc hình tim hay gần như cụt, chóp tù hay hơi nhọn, có thuỳ trên các nhánh tược còn non, có răng, với răng hình tam giác, tù, khía rộng; gân gốc 3, các gân bên đạt tới chiều dài của phiến. Hoa cùng gốc hay khác gốc, các hoa cái thành bông đuôi sóc hơi dài hơn rộng, nhưng không quá 2cm. Quả trắng hay hồng, thuộc dạng quả phức gồm nhiều quả bế bao trong các lá đài đồng trưởng và trở thành mọng nước. Mùa hoa tháng 4-5, quả tháng 6-7.
Bộ phận dùng: Lá dâu (Folium Mori), thường gọi là Tang diệp. Vỏ dâu (Cortex Mori), thường gọi là Tang bạch bì; Cành dâu (Ramulus Mori), hay Tang chi. Quả Dâu (Fructus Mori), hay Tang thầm; Tổ bọ ngựa cây Dâu (Ootheca Mantidis), hay Tang phiêu tiêu, Tầm gửi cây Dâu (Ramulus Loran) thi, hay Tang ký sinh.
Phân bố và thu hái:Nguyên sản của Trung Quốc, được trồng rộng rãi ở các nước châu Á. Đã được trồng ở nước ta từ lâu đời khi người ta biết nuôi tằm. Nhiều bộ phận của cây Dâu được thu hái làm thuốc. Có những bộ phận có thể thu hái quanh năm. Tầm gửi chỉ gặp ở những cây gỗ lớn. Dùng tổ bọ ngựa chưa nở, phải đồ chín rồi sấy khô.
Thành phần hoá học:Lá Dâu chứa inokosteron, ecdysteron, morocetin, umbelliferon, scopoletin, scopolin, α , β-hexenal, trigonellin và nhiều acid amin. Còn có chất cao su, tanin, caroten, vitamin C, pentozan, đường. Vỏ rễ Dâu chứa các acid hữu cơ, tanin, pectin và những hợp chất flavonoid bao gồm morin, mulberrin, mulberronchromen, cyclomulberrin, cyclomulberrochromen. Quả Dâu chứa đường (glucose và fructose), acid malic và acid succinic, protein, tanin, vitamin C, caroten, sắc tố màu đỏ anthocyanidin. Tổ bọ ngựa trên cây Dâu chứa protid, chất béo, muối sắt, calcium.
Tính vị, tác dụng:
Lá Dâu (Tang diệp)có vị đắng, ngọt, tính bình có tác dụng tán phong, thanh nhiệt, lương huyết, sáng mắt. Người ta nhận thấy lá Dâu có tác dụng trị liệu đái đường lại ức chế trực khuẩn thương hàn, tụ cầu khuẩn.
Vỏ rễ Dâu (Tang bạch bì) đã cạo sạch lớp vỏ ngoài, phơi hay sấy khô, có vị ngọt, hơi đắng, tính mát, có tác dụng thanh phế nhiệt, lợi thuỷ, chỉ khái, hạ suyễn, tiêu sưng.
Cành Dâu non (Tang chi) đã phơi hay sấy khô có vị đắng nhạt, tính bình, có tác dụng trừ phong, lợi các khớp, thông kinh lạc, tiêu viêm, hạ nhiệt, giảm đau.
Quả Dâu (Tang thầm)có vị ngọt, chua, tính mát, có tác dụng dưỡng huyết, bổ gan thận, trừ phong.
Tầm gửi cây Dâu (Tang ký sinh) có vị đắng, tính bình, có tác dụng mạnh gân cốt, lợi huyết mạch, hạ hồng cầu, an thai, xuống sữa, lợi tiểu.
Tổ bọ ngựa cây Dâu (Tang phiêu tiêu) có vị ngọt mặn, tính bình, có tác dụng ích thận, cố tinh, lợi tiểu.
Công dụng, chỉ định và phối hợp:
1. Lá Dâu non có thể vò ra thái nhỏ nấu canh lẫn với các loại rau khác, có hương vị của rau Dền giúp ăn ngon, ngủ yên. Lá Dâu thường được dùng chữa sốt, cảm mạo do phong nhiệt, ho, viêm họng, đau răng, đau mắt đỏ, chảy nước mắt, đậu lào, phát ban, cao huyết áp, làm cho sáng mắt. Ngày dùng 6-18g, dạng thuốc sắc.
2. Vỏ rễ dùng trị phế nhiệt, hen suyễn, khái huyết, phù thũng, dị ứng do ăn uống, bụng trướng to, tiểu tiện không thông. Ngày dùng 6-12g, dạng thuốc sắc.
3. Cành Dâu dùng trị phong tê thấp, đau thắt lưng, đau nhức các đầu xương, cước khí, chân tay co quắp. Ngày dùng 6-12g hay hơn, dạng thuốc sắc.
4. Quả dùng trị viêm gan mạn tính, thiếu máu, suy nhược thần kinh. Ngày dùng 10-15g.
5. Tang ký sinh chữa đau lưng, đau mình, chân tay tê bại, động thai, sau khi đẻ ít sữa. Ngày dùng 12-20g, dạng thuốc sắc.
6. Tổ bọ ngựa dùng chữa đi đái nhiều lần, di tinh, liệt dương, bạch đới, trẻ em đái dầm. Ngày dùng 6-12g.
Người ta còn dùng nấm Dâu tức là mộc nhĩ mọc trên cây dâu và sâu dâu làm thuốc.
Dược điển Trung Quốc có ghi là lá Dâu, vỏ Dâu, cành Dâu, quả Dâu đều có công năng thanh phế nhiệt, trừ phong thấp, bổ gan thận. Người ta dùng vỏ trị phế nhiệt, thổ huyết, thủy thũng; cành trị phong thấp, thấp khớp viêm, đau lưng gối; lá trị phong nhiệt cảm mạo; vỏ rễ trị viêm gan mạn tính, thiếu máu, thần kinh suy nhược và dị ứng.
Ở Philippin, người ta dùng Dâu chữa rò, mụn mủ, bướu và bệnh ngoài da, các vết cắn, vết thương và bệnh lậu.
Ở Ấn Độ, người ta dùng quả làm thuốc mát trong cơn sốt và còn dùng làm thuốc chữa viêm họng, khó tiêu và bệnh u sầu; vỏ được dùng làm thuốc xổ và trị giun.
Bài thuốc:
1. Ra mồ hôi trộm ở trẻ em, ra mồ hôi ở bàn tay người lớn: Lá Dâu non nấu canh với tôm, tép hoặc dùng lá dâu bánh tẻ 12g, Cúc hoa, Liên kiều, Hạnh nhân đều 12g, Bạc hà, Cam thảo đều 4g, Cát cánh 8g, Lô căn 20g, sắc uống.
2. Dự phòng cảm cúm: Lá Dâu 12g, Cúc hoa 12g, Thảo quyết minh 8g sắc uống.
3. Mắt đau, viêm màng kết mạc cấp tính: Lá Dâu nấu nước xông vào mắt; lá Dâu bánh tẻ, rửa sạch, giã nát đắp, có thể làm tan huyết khi đau mắt đỏ sung huyết.
4. Huyết áp cao: Lá Dâu và hạt Ích mẫu nấu nước ngâm chân buổi tối 30-40 phút trước khi đi ngủ.
5. Viêm khớp sưng phù, chân tay tê bại, cước khí, đầu ngón tay đau nhức, ngứa đỏ về mùa đông đợt lạnh nhiều: Cành Dâu, Kê huyết đằng, Uy linh tiên, mỗi vị 12g, sắc nước uống.
6. Ho, hen suyễn: Vỏ rễ 20-40g sắc uống. Có thể thêm Địa cốt bì và Cam thảo.
7. Khó tiêu, chân tay phù nề: Vỏ rễ Dâu sắc uống hoặc phối hợp với vỏ Gừng, vỏ Quít, vỏ quả Cam, Phục linh sắc uống.
8. Chữa thiếu máu, da xanh người gầy khô héo, mất ngủ, đầu choáng, chóng mặt; dùng quả Dâu chế xirô hay ngâm rượu hoặc dùng quả Dâu thêm Câu Kỷ tử, Hà thủ ô đỏ, nhân hạt táo, mỗi vị 10g, sắc uống.
9. Trừ phong thấp, mạnh gân cốt, can thận yếu dẫn tới đau lưng mỏi gối: Tầm gửi cây Dâu, phối hợp với Cẩu tích, Ngưu tất, sắc nước uống.
10. Bổ huyết, an thai khi bị động thai ra máu: Tầm gửi thêm rễ Gai, Tục đoạn sắc nước uống.
11. Di mộng tinh, hoạt tinh: 10 tổ Bọ ngựa sao cháy nghiền bột, thêm đường, uống trước khi đi ngủ, uống 3 ngày. Có thể thêm Long cốt, nghiền bột mịn, ngày 2 lần, trong 3 ngày.
12. Đái dắt, đái nhạt: Tổ Bọ ngựa Dâu cùng với quả Kim anh, nướng cháy, tán mịn, uống với rượu lúc đói.
13. Thuốc bổ: Sâu Dâu thêm nước cơm hấp chín, ăn tất cả.

ĐA TRÒN LÁ

ĐA TRÒN LÁ

Tên khác: Ða tròn lá, Ða xoan
Tên khoa học: Ficus benghalensis L, thuộc họ Dâu tằm (Moraceae).
Mô tả: Cây gỗ to, cao 10-30m, có nhiều rễ phụ khí sinh; cành non có lông ngắn, dày. Lá có phiến xoan, dài 10-22cm, gốc tròn hay hình tim, gân phụ 5-7 cặp, cuống dài 1-7cm. Quả sung từng cặp ở nách những lá đã rụng, tròn hay xoan, to 1,5cm, không lông, màu đỏ đậm; lá bắc 3, có lông dày; hoa có bao hoa màu 3-4, 1 nhị.
Bộ phận dùng: Nhựa, vỏ, lá, rễ (Latex, Cortex, Folium et Radix Fici Benghalensis).
Nơi sống và thu hái:Loài phân bố ở Ấn Độ, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Xri Lanca, Malaixia, Inđônêxia và Ôxtrâylia. Ở nước ta, được trồng làm cảnh và lấy bóng mát.
Thành phần hoá học:Vỏ cây nếu chiết bằng cồn cho ta những chất Glycemic. Cây có nhựa mủ.
Tính vị, tác dụng:Rễ và lá lợi tiểu. Vỏ có tác dụng bổ, thu liễm. Hạt làm mát và bổ.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Rễ được xem là bổ, có khi được dùng cùng với lá chữa thuỷ thũng.
Ở Ấn Độ, rễ được dùng trị bệnh lậu, lá giã ra dùng làm thuốc đắp áp xe. Nhựa cũng được dùng đắp ngoài vào các chỗ đau do tê thấp và đau lưng. Nước pha vỏ cây làm thuốc trị lỵ, ỉa chảy và đái đường.

ÐA TALBOT

ÐA TALBOT

Tên khác: Ða Talbot
Tên khoa học: Ficus talbotii G. King, thuộc họ Dâu tằm (Moraceae).
Mô tả: Cây gỗ cao tới 15m, cành yếu, lóng dài. Lá có phiến cứng, không lông, dài 10cm, đầu nhọn, góc tròn; gân gốc chạy đến 1/3 phiến, gân phụ mảnh. 4-5 cặp; cuống mảnh; lá kèm 7mm, có lông. Quả sung từng cặp, không cuống, to 6mm, có lông mịn như phấn; bao chung gồm 3 lá bắc cao 1,5mm. Có quả tháng 9.
Bộ phận dùng: Vỏ cây (Cortex Fiet Talbotrii).
Phân bố và thu hái:Loài của Ấn Độ, Mianma, Lào, Campuchia, Thái Lan, Xri Lanca và Việt Nam. Ở nước ta chỉ gặp ở vùng núi Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Ở Ấn Độ, nước sắc vỏ cây dùng chữa loét, bệnh đường âm đạo, ỉa chảy và bệnh phong.


ĐA LÔNG

ĐA LÔNG

Tên khác: Ða lông, Ða hạch, Sung nhân
Tên khoa học: Ficus drupacea Thunb (F. pilosa Reinw ex Blume); thuộc họ Dâu tằm (Moraceae).
Mô tả: Cây gỗ cao 15m hay hơn. Cành nhánh to, lúc đầu có lông mềm dài, sau nhẵn. Lá hình trái xoan hay bầu dục, tròn ở gốc, dài 5-12 cm, rộng 3,5-6cm, lúc non có lông hoe, sau nhẵn; gân gốc 3, các gân bên cũng to bằng các gân phụ (8-11 đôi) hơi trải ra; cuống lá dài 7-15mm; lá kèm dài 1cm, phủ lông tơ dày đặc và vàng. Cụm hoa sung trên các nhánh mang lá, đơn độc hay xếp thành đôi ở nách lá, hình trứng, dài 15-17mm, rộng 15mm.
Bộ phận dùng: Vỏ cây, tua rễ (Cortex Radix Adventiva Fici Drupaceae).
Phân bố và thu hái:Loài của Mianma, Campuchia, Thái Lan, Malaixia, Niu Ghinê, Ôxtrâylia. Ở nước ta gặp mọc hoang ở rừng núi và cũng được trồng ở Hoà Bình, Hà Nội, Nam Hà, Quảng Trị, Sông Bé, thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiên Giang. Thu hái vỏ và tua rễ quanh năm.
Tính vị, tác dụng:Vị nhạt, tính mát; có tác dụng lợi tiểu và làm ra mồ hôi.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Tua rễ (cả vỏ lẫn lõi) được dùng trị phù nề cổ trướng do xơ gan; nó làm tăng bài tiết nước tiểu, làm hết hoặc giảm phù nề cổ trướng. Liều cao có tác dụng mạnh; dạng bột có tác dụng hơn dạng nước sắc. Vỏ cây dùng trị đau bao tử, thường dùng sao vàng, sắc nước uống.
Bài thuốc:
1. Cảm cúm, cảm sốt: Dùng 12-20g lá Ða lông hay tua rễ Ða sắc uống.
2. Tiểu tiện không thông, đái ra dưỡng trắp: Dùng tua rễ Ða 20g, Rau dừa nước và Tỳ giải đều 15, sắc uống.

ĐA CUA

ĐA CUA

Tên khác: Ða cua
Tên khoa học: Ficus sumatrana Miq. var. subsumatrana(Gagnep.) Corn; thuộc hộ Dâu tằm (Moraceae).
Mô tả: Cây gỗ cao vài chục mét, nhánh non khá mảnh, nhẵn, có các lông sít nhau, lồi. Lá hình bầu dục, tù hay tròn ở gốc, hơi thót lại ở đầu tù, rất nhẵn, dai, nguyên, dài 5-10cm, rộng 3-5cm; cuống lá dẹp, kéo dài dưới phiến tới các gân gốc bên chính, rộng 2-5mm. Quả sung đơn độc ở các nhánh có lá, không cuống, hình cầu, đường kính 1-1,2cm, màu vàng, không lông.
Bộ phận dùng: Mủ (Latex Fici Sumatranae).
Phân bố và thu hái:Loài của của Lào, Campuchia, Inđônêxia và Việt Nam. Ở nước ta, chỉ gặp ở các tỉnh miền Trung, từ Quảng Trị tới Lâm Ðồng.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Theo Poilane, mủ cây dùng đắp các vết đứt để chóng làm đông máu.


ĐA BÚP ĐỎ

ĐA BÚP ĐỎ

Tên khác: Đa búp đỏ, Đa cao su, Đa dai
Tên khoa học: Ficus elastica Roxb. ex Horn.; thuộc họ Dâu tằm (Moraceae).
Mô tả: Cây gỗ thường xanh cao tới 35m, đường kính thân tới 70cm. Rễ cũng phát triển mạnh trên cành và mọc hướng xuống đất. Lá to, hình trái xoan hay bầu dục, mặt trên màu lục bóng, dày và dai. Chồi ngọn bao bởi một cái búp đỏ do lá kèm tạo ra, khi lá mở ra thì các búp rụng xuống. Cụm hoa dạng quả sung, hình cầu dẹt, mọc ở nách lá; cụm quả chín màu vàng lục, mềm, dễ nát. Có hoa quả tháng 1-3.
Bộ phận dùng: Rễ phụ (tua rễ đa) và lá, mủ (Radix Adventiva, Folium et Latex Fici) Elasticae.
Phân bố và thu hái:Loài phân bố ở Ấn Độ, Nepan, Mianma, Malaixia, Inđônêxia và Việt Nam. Ở nước ta, cây mọc dại ở rừng núi, ở làng bản và cũng được trồng nhiều để lấy bóng mát. Người ta cũng trồng ở các bờ ao hồ lấy quả rụng làm thức ăn cho cá. Thu hái rễ phụ và lá quanh năm.
Thành phần hoá học:Mủ có cao su.
Tính vị, tác dụng:Vị nhạt, tính mát, có tác dụng lợi tiểu tiện, làm ra mồ hôi.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Lá thường dùng để giải cảm cho ra mồ hôi. Tua rễ lợi tiểu mạnh, thường dùng chữa phù nề, cổ trướng do xơ gan. Mủ dùng chữa mụn nhọt.
Bài thuốc:
1. Chữa cảm cúm, cảm sốt, viêm amygdal, đau mắt, sốt rét cơn: Dùng 12-20g lá đa hay rễ đa sắc uống.
2. Chữa tiểu tiện không thông, đái ra dưỡng trấp: Dùng tua Ða 20g. Rau dừa nước. Tỳ giải đều 15g, sắc uống.



Wednesday, 11 September 2013

CỌ NỌT-Ficus semicordata-cây thuốc nam

CỌ NỌT


Tên khác: Da lá lệch.
Tên khoa học: Ficus semicordata Buch.-Ham. ex Sm.; thuộc họ Dâu tằm (Moraceae).
Tên đồng nghĩa: Ficus cunia Ham. ex Roxb.
Mô tả: Cây gỗ có kích thước trung bình, cỡ 11m, có nhánh khá to, đầy lông hoe, hơi thô ráp. Lá mọc so le, hình trái xoan dài, có hai tai, với tai rất không đều ở gốc, một bên hình tim, có 3-4 gân, một bên tù, có lông ráp, với lông dạng củ ở mặt trên, mặt dưới mềm hơn, dài 13-30cm, rộng 5,5-12cm, cuống lá khá to, có lông thô ráp, dài 4-10mm; lá kèm cao 2-2,5cm. Quả sung trên những nhánh riêng không lá, ở gốc nhiều hay ít, xếp 2-3 cái, có cuống, dạng quả lê hay hình cầu, có lông cứng, sù sì, màu đỏ nâu khi chín, đường kính 8-14mm. Cây có hoa quả tháng 10-3.
Bộ phận dùng:Quả, vỏ cây, dịch rễ (Fructus, Cortex et Succus Radicis Fici Semicordatae).
Phân bố sinh thái:Cây mọc khá phổ biến ở miền Bắc Việt Nam, nhất là ở Lào Cai, Hòa Bình, Thanh Hóa. Cũng được trồng làm cảnh.
Công dụng: Ở Ấn Ðộ quả được dùng trong bệnh đau aphtơ. Quả và vỏ cây dùng nấu nước tắm điều trị bệnh phong. Dịch rễ dùng trị đau bàng quang và dùng uống với sữa, trong các chứng đau nội tạng.

Saturday, 8 June 2013

CHAY LÁ BÓNG-CÔNG DỤNG CÁCH DÙNG-CÂY THUỐC NAM

CHAY LÁ BÓNG


Tên khác: Mít rễ khoai, Vỏ khoai.
Tên khoa học: Artocarpus nitidus Trécul; thuộc họ Dâu tằm (Moraceae).
Tên đồng nghĩa: A. lingnanensis Merr.
Mô tả: Cây gỗ thường xanh, cao tới 15m, thân to 20cm, cành có lông. Lá có phiến bầu dục dài 7-15cm, rộng 3-7cm, gân phụ 7-8 cặp, không lông ở cả hai mặt, mặt trên bóng, hơi ửng đen, cuống 1-1,5cm, lá kèm nhỏ 2mm. Dái đực không cuống, bao hoa tam giác. Quả không gai, có chai thấp, màu hung hung, trên cuống 4-5cm, nạc vàng hay đỏ hồng, hạt to 15x 12mm.Ra hoa tháng 4-5.
Bộ phận dùng: Quả và rễ (Fructuset Radix Artocarpi Nitidi).
Phân bố sinh thái: Loài phân bố ở Nam Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan. Ở nước ta, cây mọc hoang trong rừng và đất khai hoang ở Khánh Hoà, Đồng Nai, cũng được trồng ở Hà Nội, Hải Phòng.
Thu hái chế biến: Thu hái rễ quanh năm; thu hái quả vào mùa thu. Rễ đào về rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô dùng.
Tính vị, tác dụng: Vị chua ngọt, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, khai vị, thu liễm, chỉ huyết.
Công dụng, chỉ định và phối hợp:
- Quả ăn được, dùng ngâm với đường và dùng làm gia vị. Vỏ thân và rễ dùng ăn với trầu thay cho cau.
- Quả và rễ được sử dụng làm thuốc chữa: 1. Phổi nóng ho ra máu, thổ huyết, khạc ra máu, đau họng; 2. Thiếu nước chua trong dạ dày, không muốn ăn.
Liều dùng: Ngày dùng 20-40g quả khô, 50-60g rễ khô, sắc nước uống.