Showing posts with label G. Show all posts
Showing posts with label G. Show all posts

Sunday, 2 November 2014

GUỘT RẠNG-Blechnum orientale-Ráng dừa

GUỘT RẠNG


Tên khác: Ráng dừa.
Tên khoa học: Blechnum orientale L.; thuộc họ Guột rạng (Blechnaceae).
Mô tả: Dương xỉ cao tới 1-2m, có thân rễ mọc đứng, phủ nhiều vẩy dạng sợi, màu nâu hồng ở gốc. Lá có cuống dài 20-40cm, mọc đứng, có vẩy ở gốc, phiến lá dài 0,5-1,5m, rộng 20-40cm, có dạng thuôn, kép lông chim một lần; lá chét rất nhiều, không cuống, dài 10-25cm, rộng 1cm, thu hẹp dần ở đầu thành mũi nhọn, mép nguyên; trục lá và phiến không lông, gân đơn hay rẽ đôi. ổ túi bào tử kéo dài thành đường liên tục, có áo túi và không nằm sâu trong hốc. Bào tử hình thận màu vàng nhạt; mang nhiều mào lồi dọc không đều. Cây sinh sản vào mùa hè.
Bộ phận dùng:Thân rễ và dây lá (Rhizoma et Herba Blechni).
Phân bố sinh thái:Loài phân bố ở Ấn Độ, Trung Quốc và Việt Nam. Ở nước ta cây mọc thành đám, dựa suối, trên các đồi hay ven rừng từ vùng thấp tới vùng cao 1300m ở nhiều nơi.
Tính vị, tác dụng:Vị đắng, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt giải độc, sát trùng chỉ huyết, hoạt huyết tán ứ; cũng có thể rút độc sinh cơ.

Công dụng, cách dùng:Dân gian ở nước ta cũng như ở Trung Quốc và Malaysia thường dùng chồi lá non giã nát nhỏ đắp rút mủ mụn nhọt và vết thương sưng tấy. Người ta còn phối hợp với lá Vông vang dùng đắp vào vết rắn cắn để hút độc. Ở Trung Quốc, người ta còn dùng thân rễ của nó làm thuốc trị bệnh cảm cúm, viêm màng não, ban chấn thương hàn, bệnh giun đũa giun móc câu, chảy máu cam, thổ huyết, băng huyết, viêm tuyến nước bọt, bỏng lửa.
www.duoclieu.org

Saturday, 1 November 2014

GUỘT-Dicranopteris dichotoma-cây thuốc chữa viêm phế quản cấp

GUỘT


Tên khác: Guột lưỡng phân.
Tên khoa học: Dicranopteris linearis (Burm. f.) Underw.; thuộc họ Guột (Gleicheniaceae).
Tên đồng nghĩa: Dicranopteris dichotoma (Thunb.) Bernh.; thuộc họ Guột (Gleicheniaceae).
Mô tả: Dương xỉ có thân rễ bò dài mang phần trên mặt đất cao 45-90 (120)cm. Lá đứng, cuống lá phân nhánh lưỡng phân đến 2 (3) lần; ở gốc các lá lưỡng phân đều có 2 lá lược phụ dạng lá kèm; lá lược thứ cấp thon dài, đoạn hẹp dài 2cm, rộng 3-4mm, không lông, mặt dưới hơi mốc, gân phụ thường chẻ hai từ gốc. Ở túi gần 7-8 túi bào tử, bào tử bốn mặt, không màu. 
Bộ phận dùng:Toàn cây (rễ và chồi thân) – (Herba Dicranopteridis).
Phân bố sinh thái:Cây của miền nhiệt đới và á nhiệt đới, thường mọc ở vùng đồi núi Bắc bộ và Trung Bộ của nước ta.
Thu hái: Toàn cây quanh năm, rửa sạch, dùng tươi hay phơi khô.
Tính vị, tác dụng:Vị ngọt, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt lợi niệu, khu đờm, chỉ huyết.
Công dụng, cách dùng:Thường được dùng chữa 1. Bệnh đường tiết niệu; 2. Bạch đới; 3. Viêm phế quản cấp; 4. Ðòn ngã tổn thương.
Bài thuốc:
1. Tiểu tiện khó:Chồi thân Guột 30g sắc ước uống.
2. Viêm phế quản cấp:Rễ Guột 30-60g. Ðun sôi uống.
3. Khí hư bạch đới:Chồi thân Guội 12-15g, Long nhãn khô 30g. Ðun sôi uống.
www.duoclieu.org

GUỒI TÂY-Passiflora laurifolia

GUỒI TÂY


Tên khoa học: Passiflora laurifolia L.; thuộc họ Lạc tiên (Passifloraceae).
Mô tả: Dây leo không lông, thân tròn. Lá có phiến xoan thon, dài 7-10cm, rộng 4-8cm, gốc hình tim, không lông; gân phụ 10 cặp; cuống dài 1-1,3cm; lá kèm dài 3-4mm, tua cuốn đơn. Hoa đơn độc, to, thơm, có 3 lớp tràng phụ, có màu trắng, đỏ và tím mà ưu thế là đỏ. Quả mọng hình trứng to bằng quả trứng ngỗng, có 3 cạnh dọc; hạt dài 6-7cm, rộng 3,5mm.
Bộ phận dùng: Lá và quả (Folium et Fructus Passiflorae Laurifoliae).
Phân bố sinh thái: Cây nguyên sản ở vùng Antilles châu Mỹ được nhập trồng ở các xứ nhiệt đới. Một số nơi ở miền Nam nước ta cũng có trồng.
Thành phần hoá học:Lá chứa acid cyanhydric.
Công dụng, cách dùng:Lá có độc, khi đem hơ nóng, được dùng đắp làm mưng mủ mụn nhọt. Thịt quả trắng, có nhiều dịch, rất thơm, vị chua, dùng ăn ngon.
www.duoclieu.org

GUỒI-Willughbeia edulis

GUỒI


Tên khác: Gùi.
Tên khoa học:  Willughbeia edulis Roxb.; thuộc họ Trúc đào (Apocynaceae).
Tên đồng nghĩa: Willughbeia cochinchinensis (Pierre) K.Schum.
Mô tả: Cây gỗ leo. Thân có mấu lồi, bấm ra nhựa mủ trắng. Lá mọc đối, chóp nhọn; gân lá nổi rõ ở mặt trên. Hoa tập hợp ở nách lá, màu trắng. Quả to bằng nắm tay, khi chín màu vàng, vị chua ngọt, ăn được. Cây ra hoa tháng 1-3, quả tháng 3-5.
Bộ phận dùng:Dây hoặc rễ, mủ cây (Caulis seu Radix et Latex Willughbeiae Edulis).
Phân bố sinh thái:Loài cây đặc hữu của miền Nam Việt Nam và Campuchia, mọc hoang ở rừng rậm hay rừng thưa.
Thu hái: Thu hái dây, rễ và mủ cây quanh năm.
Tính vị, tác dụng:
Lương y Nguyễn An Cư cho biết: Guồi có vị hơi đắng, tính mát, không độc, có tác dụng lợi thuỷ, thông nhũ, sinh tân, chỉ khát, giáng hoả, thanh nhiệt, tiêu ban, chỉ ẩu, trừ thũng, tán ung.
Mủ cây tạo thành một chất gôm màu đỏ rất dính, rất cứng, khi khô không trong, dễ vỡ.
Công dụng, cách dùng:
Ở Campuchia, thân cây được sử dụng làm các chế phẩm thuốc trị lỵ và bệnh về gan và bệnh ghẻ cóc. Có khi người ta ngâm rượu làm thuốc cho phụ nữ mới sinh để uống cho khoẻ.
Lương y Nguyễn An Cư còn cho biết là đàn bà huyết bại tê đau, bạch trọc, bạch đới, băng huyết, rong huyết dùng nó rất hay. Mủ cây thường dùng để làm lành mụn nhọt. Người ta cũng dùng nó bôi chữa ghẻ và sâu răng.
www.duoclieu.org

GỪNG LÚA-Zingiber gramineum-Ngải trặc

GỪNG LÚA


Tên khác: Ngải trặc.
Tên khoa học: Zingiber gramineum Noronha ex Blume; thuộc họ Gừng (Zingiberaceae).
Mô tả: Cây cao 1,5m, dạng như Trúc. Thân rễ vàng thơm, rễ to. Lá có phiến hẹp, dài 28-37cm, rộng 1-2,1cm, mỏng, thon thon, không lông, gân rất mịn; có rìa lông. Cụm hoa trên trục cao 35cm, hình chuỳ tròn tròn; lá bắc dài đến 6cm, có lông tơ dày, xanh rồi đỏ; đài 17mm, chẻ sâu. Quả nang tròn tròn, cao 2cm; hạt nhiều, to 5mm, có áo hạt có màu. Cây ra quả tháng 9.
Bộ phận dùng:Thân rễ (Rhizoma Zingiberis Graminei).
Phân bố sinh thái:Cây được trồng ở Ðồng Nai (Biên Hoà), An Giang (Châu Ðốc)
Công dụng, cách dùng:Nhân dân thường dùng củ giã nát để bó nơi trặc gân, viêm tấy và thấp khớp.
www.duoclieu.org

GỪNG DẠI-Gừng tía, Zơrơng-Zingiber montanum

GỪNG DẠI


Tên khác: Gừng tía, Zơrơng.
Tên khoa học: Zingiber montanum (J.Koenig) Link ex A.Dietr.; thuộc họ Gừng: (Zingiberaceae).
Tên đồng nghĩa:  Zingiber purpureum Roscoe, Zingiber cassumunarRoxb.); thuộc họ Gừng: (Zingiberaceae).
Mô tả: Cây thảo mọc cao 2m. Thân rễ hình khối, thuôn, có đốt, khía rãnh, màu da cam sẫm ở trong. Lá gần như không cuống. Hình dải -ngọn giáo, dài 20-40cm, rộng 2-3,5cm, màu lục sẫm và nhẵn ở phía trên, màu lục nhạt và có lông nhung ở mặt dưới, với bẹ có lông và có lông mi ở trên đầu. Cán hoa ở bên cao 20-40cm, có vẩy dạng bẹ và có lông mềm bao quanh. Cụm hoa tạo thành nón thuôn, dài 11cm hay hơn, rộng 4-6cm, lá bắc rộng, màu gỉ sắt, với mép nhạt và dạng màng, có lông. Hoa mau tàn, lá đài đỏ, cánh hoa hẹp, có màu vàng lưu huỳnh; bầu có lông. Quả nang tròn, cao 1,3cm. Cây ra hoa tháng 7-8, quả tháng 9-10.
Bộ phận dùng:Thân rễ (Rhizoma Zingiberis Purpurei).
Phân bố sinh thái:Cây của phân vùng Ấn Độ, Malaysia gặp mọc ở ven đường, thung lũng, nơi ẩm, ngoài nắng một số nơi ở Hà Nội (Ba Vì), Ninh Bình (Cúc Phương) và gặp nhiều các tỉnh phía Nam.
Thu hái: Thân rễ có thể thu hái quanh năm, chúng có khối lượng lớn hơn củ Gừng thường, chỉ khác là màu bên trong là màu đỏ vàng gần giống như màu củ Cà rốt.
Thành phần hoá học:Thân có chứa tinh dầu (0,5-0,8% củ tươi, 4-5% trọng lượng khô) trong đó có chủ yếu là terpineol và còn có α-pinen, β-pinen, sabinen, myrsen, α-terpinen, limonen, terpinen, p-cymol, terpinolen. Gần đây đã tách được (3-4 dimetoxyphenyl) butadien (2-4).
Tính vị, tác dụng:Vị cay, đắng và khó chịu, tính ấm, có tác dụng làm thông hơi, điều kinh hơi nhuận tràng, cầm lỵ, làm săn da.
Công dụng, cách dùng:
Nhân dân thường dùng củ làm gia vị và làm thuốc. Có nơi dùng nó để chữa lỵ mạn tính.
Ở Malaysia, nó được dùng làm thuốc trị giun cho trẻ em và nước sắc của củ được dùng cho phụ nữ sau khi sinh đẻ. Người ta lại còn ngâm củ trong rượu và dùng xoa vào bụng cho đàn bà mới sinh. Thân rễ gừng lại dai cũng được dùng để điều trị bệnh thấp khớp và đụng giập.
Ở Ấn Độ, người ta cũng sử dụng thân rễ với mục đích tương tự như Gừng.
Ở Thái Lan, Gừng lại được sử dụng với nhiều Công dụng, chỉ định và phối hợp, còn dùng làm thuốc tiêu viêm chữa bong gân và đau cơ vết thương chảy máu.
www.duoclieu.org

GỪNG-Zingiber officinale

GỪNG


Tên khác: Khương.
Tên khoa học: Zingiber officinale Roscoe; thuộc họ Gừng (Zingiberaceae).
Mô tả: Cây thảo cao tới 1m. Thân rễ nạc và phân nhánh xoè ra như hình bàn tay gần như trên cùng một mặt phẳng, màu vàng, có mùi thơm. Lá mọc so le, không cuống hình mác, có gân giữa hơi trắng nhạt khi vò có mùi thơm. Cán hoa dài cỡ 20cm, mang cụm hoa hình bông, gồm nhiều hoa mọc sít nhau. Hoa có tràng hoa màu vàng xanh, có thuỳ gần bằng nhau nhọn. Cánh môi ngắn hơn các thuỳ của tràng, màu tía với những chấm vàng. Nhị hoa màu tím. Quả mọng.
Bộ phận dùng:Thân rễ (thường gọi là củ)-(Rhizoma Zingiberis), Gừng khô có tên là Can Khương, gừng tươi có tên Sinh Khương.
Phân bố sinh thái:Loài của á châu và Phi châu nhiệt đới, được trồng rộng rãi khắp nơi để lấy củ ăn làm gia vị và làm chất kích thích thơm. Gừng tái sinh dễ sống bằng những đoạn thân rễ có nhú mầm; có thể trồng quanh năm nhưng tốt nhất là vào mùa xuân; vào cuối đông thì cây khô lá. Khi dùng làm thuốc, người ta đào thân rễ về, cắt bỏ thân lá và rễ tơ, rửa sạch đất, phơi hay sấy khô.
Thành phần hoá học:Trong củ Gừng có 1-3% tinh dầu mà thành phần chủ yếu là α-camphen, β-phelandren một carbur là zingiberen một alcol sesquiterpen, các phenol (cineol, citral, borneol, geraniol, linalol, zingiberol. Ngoài ra còn có 3,7% lipid, tinh bột và 5% nhựa dầu trong đó có các chất cay như zingeron, zingerol, và shogaol.
Tính vị, tác dụng:Gừng sống có vị cay, tính hơi ấm, có tác dụng chống lạnh, tiêu đờm, chặn nôn giúp tiêu hoá. Gừng nướng có vị cay ấm, chữa đau bụng lạnh dạ đi ngoài. Gừng khô có vị cay nóng, tính hàn. Vỏ gừng tiêu phù thũng.
Công dụng: Gừng là vị thuốc quen thuộc trong nhân dân ta để giúp cho sự tiêu hoá, dùng trong những trường hợp kém ăn, ăn uống không tiêu, nôn mửa đi ỉa, cảm mạo phong hàn, làm thuốc ra mồ hôi, chữa ho mất tiếng.
Cách dùng, liều dùng:Gừng sống nhấm từng ít một dùng chữa nôn mửa. Có thể sắc Gừng tươi để uống. Ngày dùng 4-8g. Có thể làm thuốc pha hoặc ngâm rượu Gừng, mỗi ngày dùng 2-5ml để chữa ngoại cảm, bụng trướng đầy, nôn mửa, ho. Dùng gừng phối hợp với Chanh quả, củ Sả, mỗi thứ 10g, thái nhỏ ngâm với 5g muối và xirô đơn (vừa đủ 100ml) trong 3 ngày rồi dùng vải vắt kiệt lấy nước, đựng trong lọ kín. Dùng uống trị ho, ngày 2 lần, mỗi lần 1-2 thìa canh. Trẻ em dùng 1/2 liều của người lớn. Gừng khô sắc uống như Gừng tươi, dùng khi bị lạnh mà đau bụng, đi ỉa lỏng, mệt lả, nôn mửa. Trong Nam dược thần hiệu, Tuệ Tĩnh đã ghi bài thuốc chữa cảm hàn rét run, hay đau bụng lạnh dạ, ỉa xối ra nước hoặc đau bụng thổ tả dùng Can khương và củ Riềng ấm, mỗi vị 15-20g sắc uống. Gừng sao thật vàng cũng dùng chữa đau bụng lạnh, tay chân lạnh, nhức mỏi tê bại, tê thấp, đầy hơi. Gừng sao gần cháy cũng dùng như Gừng sao và còn dùng trị băng huyết. Nhân dân ta còn chế mứt Gừng và Gừng muối. Gừng muối dùng tránh ho và chống lạnh trong mùa đông, nó lại có tác dụng tăng cường muối cho cơ thể đỡ say nóng và đỡ khát nước trong mùa hè, mà còn chữa chứng đầy bụng, làm thông đường tiêu hoá, sát trùng trong trường hợp đau răng và sưng amygdal. Chúng ta có nhiều kinh nghiệm dân gian trong việc sử dụng Gừng, từ những trường hợp đơn giản như nhai gừng tươi nuốt nước chữa đau bụng, nôn mửa. oẹ... đến những trường hợp phức tạp như chữa tỳ thấp thũng trướng, tay chân phù, ăn uống không tiêu, sợ lạnh, sợ nước.
www.duoclieu.org

GÙI DA CÓ CÁNH-Guioa pleuropteris

GÙI DA CÓ CÁNH


Tên khoa học: Guioa pleuropteris (Blume) Radlk.; thuộc họ Bồ hòn (Sapindaceae).
Mô tả: Cây gỗ lớn hay cây bụi. Lá dài 20-25cm, lá chét 6-10 xoan thon dài, không cân xứng, dài cỡ 6cm, mặt dưới có lông, cuống lá có cánh. Ngù hoa ngắn hơn lá. Hoa xanh xanh thơm; cánh hoa có 2 vẩy rìa lông, có đĩa mật; nhị 8, bầu 8 cánh, có lông. Quả nang có 3 khía; hạt có áo hạt.
Bộ phận dùng: Quả (Fructus Guioae Pleuropteridis).
Phân bố sinh thái:Loài phân bố ở Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Mianma, Malaysia, Indonesia. Ở nước ta, cây mọc trong rừng rậm hoặc rừng gần biển ở Côn đảo và Hà Tiên.
Công dụng, cách dùng:Ở Campuchia, người ta dùng quả để ăn nhưng hạt được xem như là độc. Gỗ thân được dùng làm hàng rào.
Ghi chú: Loài này do A. Pételot nêu lên. Theo mô tả thì nó giống với cây Gùi da hơi nâu (Guioa fuscidula (Kurz) Radlk.) mà Phạm Hoàng Hộ nêu là có ở rừng Bảo Lộc, tỉnh Lâm Ðồng.
www.duoclieu.org

GÙI GA-Guioa diplopetala-cây thuốc chữa bệnh lậu

GÙI GA


Tên khoa học: Guioa diplopetala (Hassk.) Radlk.; thuộc họ Bồ hòn (Sapindaceae).
Tên đồng nghĩa: Guioa cambodiana Pierre; thuộc họ Bồ hòn (Sapindaceae).
Mô tả: Cây gỗ cao 4-10m. Lá có 8-10 lá chét, dài 4-13cm, rộng 13-35mm, mọc đối hay gần đối, thuôn, không cân ở gốc, có mũi nhọn ngắn ở đầu. Hoa xếp thành chùm ở ngọn hay ở nách lá, khá ngắn. Quả nang, có 3 thuỳ với vỏ quả mềm, có vỏ quả trong hoá sừng. Hạt hình trứng ngược, bao bởi áo hạt lượn sóng, có rễ đen, dai.
Bộ phận dùng: Rễ (Radix Guioae Cambodianae).
Phân bố sinh thái:Cây đặc hữu của Campuchia và Nam Việt Nam.
Công dụng, cách dùng:Quả ăn được, có thể là do áo hạt. Rễ đun sôi làm thành thuốc uống trị bệnh lậu.

GỪA-Ficus microcarpa-Si quả nhỏ

GỪA


Tên khác: Si quả nhỏ.
Tên khoa học: Ficus microcarpa L.f.; thuộc họ Dâu tằm (Moraceae).
Mô tả: Cây gỗ lớn, cao tới 25m, lúc nhỏ phụ sinh, có rễ khí sinh treo từ nhánh cao. Lá dày láng, dài 6-20cm, chóp thường tròn, gốc có ba gân; lá kèm có lông trắng lúc non; cuống lá 1,5-3,5cm. Quả dạng sung ở nách lá, không cuống, vàng có sọc đỏ, cỡ 1cm. Cây ra hoa quả tháng 5-6
Bộ phận dùng: Rễ khí sinh và lá (Radix Adventiva et Folium Fici Microcarpae).
Nơi sống và thu hái: Loài của Ấn Độ, Lào, Campuchia, Xri Lanka, Malaysia, Indonesia, Australia. Ở nước ta cây thường gặp ở vùng có thủy triều, cũng gặp mọc dựa bờ rạch. Cây được trồng ở  Hà Nội, Ninh Bình, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam-Ðà Nẵng, Sông Bé, Bà Rịa-Vũng Tàu.
Thu hái: Rễ và lá quanh năm, rửa sạch và phơi khô.
Tính vị, tác dụng:Gừa có vị hơi đắng và se, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, kháng sinh, làm ra mồ hôi và lợi tiểu.
Công dụng, cách dùng:Rễ khí sinh dùng chữa cảm mạo, sốt cao, viêm amygdal, đau nhức khớp xương, đòn ngã tổn thương.
Liều dùng: Ngày dùng 15-30g, dạng thuốc sắc. Lá dùng chữa cúm, viêm khí quản ho gà, sốt rét, viêm ruột cấp, lỵ. Ngày dùng 5-12g, dạng thuốc sắc.
Bài thuốc:
1. Dự phòng cúm:Lá Gừa, lá Bạch đàn, đều 30g, sắc uống.
2. Viêm amygdal:Rễ Gừa 180g, nấu với nước và một bát giấm, dùng súc miệng nhiều lần trong ngày.
3. Viêm ruột cấp, lỵ:Lá Gừa tươi 500g sắc nước, chia làm 2 lần uống trong ngày.
4. Viêm khí quản mạn:Lá Gừa tươi 75g, vỏ quýt 18g sắc nước chia 3 lần uống sáng, trưa, chiều. Liên tục trong 10 ngày.

GÕ NƯỚC-Intsia bijuga-Bần ôi

GÕ NƯỚC


Tên khác: Bần ôi.
Tên khoa học: Intsia bijuga (Colebr.) Kuntze; thuộc họ Ðậu (Fabaceae).
Tên đồng nghĩa: Afzelia bijuga A.Gray
Mô tả: Cây gỗ cao tới 40m, có bạnh vè 2x 2m. Vỏ xám, nhánh nhẵn. Lá kép lông chim chẵn, dài 7-16cm, có 2-4 lá chét mọc đối hay gần mọc đối, hình bầu dục rộng, tròn ở 2 đầu, dai, lượn sóng ở mép, dài 8-15cm, rộng 5-10cm. Hoa xám hay trăng trắng, thành ngù nhiều chùm. Quả đậu dai, mỏng, dày ở mép, nhẵn, dài 15-20cm, rộng 5cm. Hạt hình mắt chim, đường kính 25mm, màu nâu, bao bởi nạc. Cây ra hoa tháng 2-5, quả tháng 5-10.
Bộ phận dùng: Quả (Fructus Intsiae).
Phân bố sinh thái:Loài này phân bố dọc theo các bờ biển của Ấn Độ dương và Thái Bình Dương, từ Madagasacar tới Polynêdi, trong các rừng lầy, rừng ẩm, ở sau rừng sác, trên các đảo san hồ, tới độ cao 600m. Ở nước ta, chỉ gặp ở Sông Bé, thành phố Hồ Chí Minh, Côn Ðảo và đảo Phú Quốc.
Công dụng, cách dùng:Quả có vị chua, ăn được, có tác dụng nhuận tràng. Gỗ tốt dùng làm đồ mỹ nghệ, dùng trong xây dựng, làm cột điện.

GỌNG VÓ LÁ BÁN NGUYỆT-Drosera peltata-cây thuốc chữa ho gà

GỌNG VÓ LÁ BÁN NGUYỆT


Tên khoa học: Drosera peltata var. lunata (Buch.-Ham. ex DC.) C.B.Clarke; thuộc họ Bắt ruồi (Droseraceae).
Mô tả: Cỏ cao 10-35cm. Thân dài, ít nhánh, mang lá có hình bán nguyệt, gân hình lọng, có lông đầu dính, tiết; cuống mảnh, dài. Chùm hoa đứng ở ngọn, không lông. Hoa trắng, cánh hoa 5, cao 5-6mm; nhị 5; bầu 3 ô. Quả nang 3 mảnh; hạt nhiều.
Bộ phận dùng:Toàn cây (Herba Droserae Peltatae).
Phân bố sinh thái:Cây mọc ở đồi cỏ trên cao nguyên Lâm Ðồng (Ðà Lạt, Lạc Dương, Di Linh).
Thành phần hoá học:Lá chứa một enzym proteolytic kiểu như pepsin.
Tính vị, tác dụng:Có độc; có tác dụng giải sang độc.
Công dụng, cách dùng:Cây được dùng như Cỏ trói gà trị ho gà, suyễn, và xơ mạch máu.
Ở Trung Quốc dùng trị đòn ngã tổn thương, tràng nhạc.
Ở Ấn Độ, lá nghiền nát ra lẫn muối hay không đều được dùng như một tác nhân làm sung huyết da. Toàn cây được xem như chống giang mai, làm chuyển hoá và trợ lực. 
www.duoclieu.org

GÒN-Ceiba pentandra

GÒN


Tên khác: Cây bông gòn.
Tên khoa học: Ceiba pentandra (L.) Gaertn.; thuộc họ Gạo (Bombacaceae).
Mô tả: Cây lớn có thân tròn thẳng, cao 20-30m. Cành nằm ngang. Thân cây lúc còn non có gai hình nón. Các bộ phận non đều có màu xanh. Lá kép chân vịt có 5-8 lá chét hình thuôn; gốc và chóp lá đều nhọn. Hoa họp thành bông dày ở ngọn cành, màu trắng bẩn. Đài hợp, có 5 thuỳ, mặt trong có lông nhung. Tràng 5, có lông nhung ở mặt ngoài. Nhị 5, chỉ nhị chẻ đôi. Bầu hình nón, không lông, vòi nhuỵ nhẵn, đầu nhuỵ hình đĩa có 5 thuỳ hình răng. Quả khô, hình bắp thịt, mở thành 5 mảnh. Vỏ quả có nhiều lông trắng dài.
Bộ phận dùng: Vỏ cây, gôm, chồi non, lá, rễ cây, dịch rễ, quả non, hạt chưa bóc vỏ (Cortex, Gummi, Gemnia, Folium, Radix, Fructus Semen Ceibae Pentandrae).
Phân bố sinh thái:Loài cây của Mỹ châu nhiệt đới, được trồng nhiều ở miền Nam nước ta, ở Lào, Ấn Độ, Mianma, nam Trung Quốc, Campuchia, Malaysia, Indonesia.
Thành phần hoá học:Thân cây chứa gôm. Hạt có thành phần giống hạt bông nhưng chỉ có ít hoặc không có gossypol. Trong hạt Gòn có 20-25% dầu, 22,5-31,6% protein, 15-26% các este. Trong dầu hạt có các acid oleic, palmitic, stearic, acid béo rắn, acid béo lỏng, phytosterin, pentosan. Dầu này có màu vàng sáng hay màu lục, không mùi, có vị giống dầu lạc, nửa đặc.
Tính vị, tác dụng:Vỏ cây có tác dụng lợi tiểu, làm săn da, hạ nhiệt; lại có tác dụng gây nôn, kích dục và cũng như vỏ gạo có tính chất làm giảm đau và hồi phục thần kinh khi bị viêm các loại rễ thần kinh. Gôm nhựa của cây bổ, gây khát, làm săn da và nhuận tràng. Lá non làm dịu, lợi sữa. Rễ lợi tiểu. Quả chưa chín làm săn da, làm thuốc nhầy dịu.
Công dụng, cách dùng, liều dùng: Ở Java, người ta dùng các quả thật non để xào nấu làm rau ăn. Hạt làm giá; giá gòn dùng ăn sống hay xào ăn cũng ngon; lại có tính làm tăng sự tiết sữa. Nhiều bộ phận được sử dụng làm thuốc. Vỏ cây thường dùng sắc uống chữa bệnh về cơ quan tiết niệu, bệnh về thận, bệnh về phổi, đau ngực, ho, lỵ, ỉa chảy, nhất là ỉa chảy thành từng thỏi dài, từng đoạn trông như albumin. Vỏ cũng dùng chữa chứng bất lực và còn dùng để chữa các bệnh về khớp, sốt rét và làm thuốc giải độc rượu. Liều dùng 15-20g dạng thuốc sắc; nếu dùng quá liều có thể bị nôn. Gôm từ thân cây tiết ra dùng trị đau bụng, lỵ, rong huyết, đái tháo. Liều dùng 4-10g. Các chồi non và lá là thuốc gây nôn và giải độc rượu. Liều dùng 15-20g. Lá non làm thuốc lợi sữa; lá già dùng nấu nước gội đầu cho tóc mượt. Rễ Gòn dùng trị bò cạp đốt, cũng dùng sắc uống trị sốt rét, lỵ mạn tính, ỉa chảy, cổ trướng và phù toàn thân. Dịch rễ dùng trị đái đường. Dầu hạt Gòn được dùng thay thế dầu hạt Bông và có thể dùng chế xà phòng.

GÕ MẬT-Sindora siamensis-cây thuốc chữa ỉa chảy, lỵ

GÕ MẬT


Tên khác: Gõ đen.
Tên khoa học:  Sindora siamensis var. maritima (Pierre) K.Larsen & S.S.Larsen; thuộc họ Ðậu (Fabaceae).
Tên đồng nghĩa: Sindora cochinchinensis var. maritima (Pierre) de Wit
Mô tả: Cây gỗ cao 30-35m. Lá kép lông chim chẵn, có 2-4 đôi lá chét mọc đối, hình trái xoan, tù ở gốc, tròn hay lõm ở chóp, dai, mặt trên có ít lông, mặt dưới có nhiều lông, dài 5-10cm, rộng 25-55mm, có gân lồi lên ở mặt dưới. Hoa thành chuỳ ở ngọn hay thành chùm ở nách lá. Quả đậu hình mắt chim, đường kính 6cm, phẳng, phủ nhiều gai nhọn, thẳng, dài 3-5mm. Hạt đơn độc, dài 10-12mm, rộng 10-11mm, có một cán noãn dài 15-18mm, rộng 18mm. Hình nón ngược. cây ra hoa tháng 3-6, quả tháng 6-2.
Bộ phận dùng: Vỏ cây (Cortex Sindorae Siamensis).
Phân bố sinh thái:Thứ này phân bố ở các vùng thấp của Thái Lan, Campuchia, Nam Việt Nam; ít gặp hơn ở Lào và bán đảo Malaysia. Ở nước ta, cây mọc thông thường trong rừng thưa cây họ dầu và trong rừng đã khai thác, thường không lên quá 500m ở Ðắc Lắc, Ninh Thuận và Sông Bé.
Tính vị, tác dụng:Vỏ đắng chát, làm săn da.
Công dụng, cách dùng:Gỗ rất tốt dùng trong xây dựng, làm chày giã gạo. Vỏ dùng nhuộm lưới đánh cá. Quả dùng ăn với trầu. Ở Campuchia, vỏ được dùng phối hợp với nhiều vị thuốc khác trị ỉa chảy và lỵ. Còn dùng trị viêm phế quản. Người ta lấy một nắm vỏ cùng với một mảnh nhựa cánh kiến to bằng đầu ngón tay, đem nấu sôi với 1 lít nước uống nhiều lần trong ngày.

GỘI NƯỚC-Aphanamixis polystachya-cây thuốc chữa thấp khớp

GỘI NƯỚC


Tên khác:  Năng gia, Gác đa bông.
Tên khoa học: Aphanamixis polystachya (Wall.) R.Parker; thuộc họ Xoan (Meliaceae).
Mô tả: Cây gỗ lớn cao 20-30m, đường kính 50-60cm. Vỏ màu đỏ tối, nhánh non có lông mịn. Lá kép lông chim lẻ, mọc so le, dài 30-50cm, mang 26-35 lá chét bầu dục, dài 12-20cm, rộng 3,5-5cm, dai, không lông, xanh mốc. Chùm hoa đực chia nhánh; hoa nhỏ, cao 3-4mm, lá đài 4-5; cánh hoa dài hơn đài 2-4 lần, ống mang 6 nhị. Bông cái mọc riêng lẻ, bầu có lông 3 ô. Quả nang hình trứng hay hình cầu, đường kính 2,5cm, có lông. Hạt có áo hạt vàng. Cây ra hoa tháng 3, quả tháng 7.
Bộ phận dùng: Vỏ, dầu hạt (Cortex et Oleum Aphanamixis).
Phân bố sinh thái:Loài phân bố ở Việt Nam, Lào, Trung Quốc, Malaixia, Ấn Độ, thường gặp trong rừng xanh mưa á nhiệt đới và rừng mưa nhiệt đới ở thung lũng các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, qua Thừa Thiên-Huế, Kontum, Gia Lai đến Ðồng Nai. Cũng thường được trồng dọc đường làm cây bóng mát.
Thành phần hoá học:Hạt có dầu.
Tính vị, tác dụng:Vỏ có vị se.
Công dụng, cách dùng:
Gỗ có sắc tươi, đẹp, phẩm chất trung bình, được dùng trong xây dựng, đóng tàu thuyền và dùng làm dụng cụ gia đình. Quả có độc.
Ở Ấn Độ, vỏ cây được dùng chữa đau lách và gan, u bướu và đau bụng. Dầu hạt dùng làm thuốc xoa bóp trị thấp khớp.

GỐI HẠC NHỌN-Củ rối có mũi, Trúc vòng-Leea guineensis

GỐI HẠC NHỌN


Tên khác: Củ rối có mũi, Trúc vòng.
Tên khoa học: Leea guineensis G. Don; thuộc họ Gối hạc (Leeaceae).
Tên đồng nghĩa: Leea acuminata Wall.; Leea aurantiaca Zoll.; Leea manillensis Walp.;
Mô tả: Cây bụi cao tới 1m hay hơn. Thân có rãnh. Lá 2 lần kép, không lông; lá chét bậc 3 hình bầu dục, cứng, gốc tù, có mũi nhọn ở đầu, mặt dưới nhạt hơn mặt trên, không đen lúc khô. Cụm hoa ngù dày, có lông mịn; hoa hồng hay đỏ, 5 lá đài, 5 nhị đính trên cánh, bầu hình đĩa. Quả mọng đỏ rồi đen, bẹp, to cỡ 1cm. Cây ra hoa vào mùa thu, tháng 7-9.
Bộ phận dùng: Rễ (Radix Leeae Manillensis).
Phân bố sinh thái:Gặp mọc trong các savan cỏ, và cả ở chỗ ẩm trong rừng, bìa rừng ở nhiều nơi, từ Hoà Bình, Lạng Sơn, Quảng Ninh cho tới Khánh Hoà, và Lâm Đồng (Ðà Lạt) còn phân bố ở Lào, Campuchia, Thái Lan.
Công dụng, cách dùng:Cũng được dùng như Gối hạc chữa phong thấp đau sưng đầu gối, dùng rễ ngâm rượu uống và xoa bóp chỗ đau.

GỐI HẠC NHĂN-Leea crispa

GỐI HẠC NHĂN


Tên khác: Củ rối nhăn.
Tên khoa học: Leea asiatica (L.) Ridsdale; thuộc họ Gối hạc (Leeaceae).
Tên đồng nghĩa: Leea crispa L.; thuộc họ Gối hạc (Leeaceae).
Mô tả: Bụi cao 1-2m, nhiều cành. Lá một lần kép, lá ở phía trên dạng đơn, có thuỳ; lá chét tròn dài, mép có răng, có lông ở mặt dưới, cuống phụ dài; cuống dính vào bẹ. Cụm hoa nhỏ, ở ngọn nhánh, có lông mịn; hoa trắng, tràng có phiến cao, chẻ thành 2 thuỳ. Quả tròn bẹp, màu lục rồi màu lam, rộng cỡ 1cm, có 6 cạnh, chứa 6 hạt. Cây ra hoa tháng 7-9.
Bộ phận dùng: Lá (Folium Leeae).
Phân bố sinh thái:Ở nước ta, loài này chỉ gặp ở Ðồng Nai (Biên Hoà). Còn phân bố ở Ấn Độ.
Công dụng, cách dùng:Ở Ấn Độ, lá được dùng giã đắp lên các vết thương.

GỐI HẠC ĐEN-Leea indica-cây thuốc chữa thấp khớp tê bại

GỐI HẠC ĐEN


Tên khác: Củ rối ấn, Cây Gây bụt.
Tên khoa học: Leea indica (Burm. f.) Merr.; thuộc họ Gối hạc (Leeaceae).
Mô tả: Cây mọc thành bụi dày, thân có rãnh. Lá hai lần kép lông chim; lá chét tròn dài, không lông, mép có ít răng đen ở mặt dưới lúc khô; lá kèm cao 3cm, dính vào cuống. Ngù hoa rộng, hoa vàng vàng, tràng có thuỳ. Quả mọng đen, tròn bẹp, rộng 1cm, chứa 4-6 hạt. Cây ra hoa tháng 5-8, quả tháng 7-12.
Bộ phận dùng: Rễ, lá và toàn cây (Radix, Folium et Herba Leeae Indicae).
Phân bố sinh thái:Cây mọc dọc đường đi trong rừng khu vực núi đá Hoà Bình, Hà Tây, Ninh Bình, Lạng Sơn, Quảng Ninh qua các tỉnh miền Trung đến tận Kiên Giang (Ðảo Phú Quốc). Còn phân bố ở nhiều nước khác: Ấn Độ, Trung Quốc, Malaysia.
Thu hái: Rễ thu hái quanh năm, rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô. Lá thường dùng tươi.
Thành phần hoá học:Lá chứa một acid vô định hình gây sùi bọt.
Tính vị, tác dụng:Rễ có vị đắng, tính ấm, không độc, cũng có những tác dụng như rễ Gối hạc: bổ tỳ vị, giúp tiêu hoá, trừ thấp giảm đau, cầm lỵ, giải độc, làm ra mồ hôi. Cây có vị nhạt, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt giải độc.
Công dụng, cách dùng:
Thường được dùng như Gối hạc trị thấp khớp tê bại, bán thân bất toại. Cũng dùng trị ỉa chảy, kiết lỵ, trẻ em cam tích, đậu sởi và phụ nữ rong kinh.
Ở Ấn Độ, người ta còn dùng nước sắc rễ trị đau bụng, giải nhiệt và giải khát. Lá được giã ra dùng đắp và điều trị chóng mặt.
Ở Trung Quốc, toàn cây được dùng trị cảm mạo phát sốt nóng.

GỐI HẠC BẰNG-Leea aequata-cây thuốc chữa bệnh đường hô hấp

GỐI HẠC BẰNG


Tên khác: Củ rối bằng.
Tên khoa học: Leea aequata L.; thuộc họ Gối hạc (Leeaceae).
Mô tả: Bụi cao 2m, cành non đầy lông. Lá 2 lần kép; lá chét mọc đối, tròn dài nhám, có lông và tuyến vàng tròn, hình khiên, đầu nhọn, gốc tròn, gân phụ 10-13 cặp; lá kèm cao 3cm. Cụm hoa ở ngọn, thấp, cao 5cm như ngù; hoa có lông mịn rộng 3-4mm, màu trắng; đài có lông mặt ngoài, nhị 5, bầu không lông. Quả có 4 cạnh tròn, đen, rộng 8mm, chứa 4 hạt. cây ra hoa quả tháng 5.
Bộ phận dùng: Rễ (Radix Leeae Aequatae).
Phân bố sinh thái:Cây mọc ở rừng Khánh Hoà, Kontum, Lâm Ðồng.
Thành phần hoá học:Cây chứa tinh dầu, hàm lượng 0,15%.
Tính vị, tác dụng:Rễ củ và thân cây có tính làm se và có nhầy. Cây có những tính chất trừ lao do tinh dầu ngăn cản sự phát triển của Mycobacterium tuberculosis, Micrococcus pyogenesvar. aureusPasteurella pestis với nồng độ theo thứ tự là 10 microgam/cc, 100microgam/cc và 50 microgam/cc.
Công dụng, cách dùng:Rễ dùng làm thuốc trị bệnh đường hô hấp.

Friday, 31 October 2014

GỐI HẠC-Củ rối, cây mũn-Leea rubra

GỐI HẠC


Tên khác:  Ðơn gối hạc, Củ rối, cây mũn.
Tên khoa học: Leea rubra Blume ex Spreng.; thuộc họ Gối hạc (Leeaceae).
Mô tả: Cây nhỏ, thường cao khoảng 1-2m, có khi hơn. Thân có rãnh dọc và phình lên ở các mấu. Rễ có vỏ ngoài màu hồng, lõi có màu hồng, trắng hay vàng. Lá kép lông chim 3 lần, các lá phía trên kép lông chim 2 lần, mọc so le; các lá chét khía răng to. Hoa nhỏ, màu hồng, mọc thành ngù ở ngọn cành. Quả chín có màu đen. Mùa hoa quả tháng 5-10
Bộ phận dùng: Rễ (Radix Leeae Rubrae).
Phân bố sinh thái:Cây của vùng Ấn Độ - Malaysia, mọc hoang ở chỗ râm mát trên các đồi ven rừng, chân núi. Cũng được trồng bằng giâm cành.
Thu hái: Người ta thu hái rễ vào mùa hè thu. Ðào về, rửa sạch, thái lát, phơi hay sấy khô.
Tính vị, tác dụng:Rễ Gối hạc có vị đắng ngọt, tính mát, có tác dụng tiêu sưng, thông huyết. Do có tác dụng này như vị Xích thược nên người ta gọi là Nam xích thược.
Công dụng, cách dùng:Thường được sử dụng dùng chữa sưng tấy, đơn bắp chuối hay phong thấp sưng đầu gối và chữa đau bụng, rong kinh. Hạt thường được dùng trị giun đũa, giun kim và sán xơ mít.
Liều dùng: Ngày dùng 15-20g rễ, dùng riêng sắc uống hoặc ngâm rượu uống. Phụ nữ khi sinh đẻ thường lấy rễ Gối hạc sắc uống cho khoẻ người, ăn uống ngon miệng, đỡ đau mình mẩy.
Bài thuốc: Chữa sưng tấy, đau bắp chuối hay phong thấp sưng đầu gối: Rễ Gối hạc 40-50g sắc uống. Hoặc phối hợp với các vị thuốc khác: Rễ Gối hạc 30g, Cỏ xước hay Ngưu tất, Rễ gấc, Tỳ giải, mỗi vị 15g, cũng sắc uống.