Showing posts with label Rhizophoraceae. Show all posts
Showing posts with label Rhizophoraceae. Show all posts

Thursday, 23 October 2014

ĐƯỚC XANH-Đước nhọn, Đưng-Rhizophora mucronata-cây thuốc nam

ĐƯỚC XANH


Tên khác: Đước nhọn, Đưng.
Tên khoa học: Rhizophora mucronata Lamarck ex Poiret; thuộc họ Đước (Rhizophoraceae).
Mô tả: Cây gỗ có nhiều rễ phụ. Lá hình bầu dục, gần tròn hay tù ở hai đầu, có cạnh lồi ở dưới, ít rõ ở trên, dài 7-13cm, rộng 4-6cm. Hoa vàng, thành xim lưỡng phân, phân nhánh nhiều lần, dài hơn cuống lá. Quả một ô chứa 1 hạt, dai, bao bởi đài hoa gập xuống ở phía gốc; trụ mầm dài 30-90cm. Cây ra hoa tháng 5-6.
Bộ phận dùng: Vỏ cây (Cortex Rhizophorae Mucronatae).
Phân bố: Cây mọc phổ biến ở bờ biển có rừng ngập mặn, nơi có bùn cứng, từ Quảng Ninh tới Khánh Hoà. Cũng phân bố ở các vùng nhiệt đới.
Thành phần hoá học:Có tanin với hàm lượng thay đổi từ 8 đến 40%. Vỏ chứa một tỷ lệ cao pentosan và furfurol. Tro vỏ chứa chủ yếu là sắt (18%) carbonat calcium (70%).
Tính vị, tác dụng:Cây có vị chát, có tác dụng làm săn da.
Công dụng: Thường dùng để nhuộm lưới và thuộc da. Vỏ được dùng làm thuốc cầm máu và trị ỉa chảy. Ở Ấn Độ, được dùng trong điều trị bệnh đái đường. Tro vỏ cây có thể dùng làm phân lót.
Ghi chú: Loài Đước chằng (Rhizophora stylosa Griffith) có vỏ chứa ít tanin cũng được sử dụng như loài trên.

Đước đôi, Đước bộp- Rhizophora apiculata-công dụng cách dùng

ĐƯỚC


Tên khác: Đước đôi, Đước bộp.
Tên khoa học:  Rhizophora apiculata Blume; thuộc họ Đước (Rhizophoraceae).
Mô tả: Cây gỗ cao đến 30m hay dạng cây nhỏ (ở Bắc Bộ), có nhiều rễ chống. Lá có phiến bầu dục, đầu nhọn, gốc tù, dày, mặt dưới có chấm đen; lá kèm dài 4-9cm. Xim hai hoa ở nách các lá đã rụng. Hoa màu vàng vàng hay trăng trắng, không lông, dài 1,5-2cm. Quả hình quả lê, dài 2-2,5cm, màu nâu, thõng xuống, trụ mầm hình trụ màu lục, phía dưới phình to, dài 20-38cm, khi chín màu phớt hồng. Cây ra hoa hầu như quanh năm; quả chín tháng 6-11.
Bộ phận dùng: Rễ (Radix Rhizophorae Apiculatae)
Phân bố, sinh thái:Cây của rừng ngập mặn ven biển vùng nhiệt đới Bắc bán cầu. Ở nước ta, thường gặp trong các rừng sú vẹt, trên đất phù sa nhiều bùn, phổ biến khắp Bắc Trung Nam. Cây có khả năng nẩy mầm từ hạt rất nhanh và cũng tái sinh bằng chồi rất khoẻ.
Công dụng: Cây có gỗ cứng nặng, khi còn tươi dễ gia công, dùng đóng đồ mộc và làm trụ mỏ. Ở Campuchia, dân gian thường dùng rễ chữa các bệnh về khớp (thấp khớp tạng khớp). Người ta cho rằng vỏ thân có độc.

Thursday, 13 February 2014


Tên khác: Dà, Dà đỏ, Dà vôi, Nét
Tên khoa học: Ceriops tagal (Perr.) C. B. Rob.; thuộc họ Đước (Rhizophoraceae).
Mô tả: Cây bụi hay cây nhỡ, nhưng có khi cao tới 15-20m, có khi thành dạng cây bụi thấp. Vỏ cây màu xám sáng. Gốc cây thường có những rễ chống nhỏ. Lá nguyên hình bầu dục ngược, mọc đối, tập hợp ở phần cuối các cành; lá kèm hình mũi mác. Hoa thường tập hợp thành xim 5-10 hoa ở nách lá hay đầu cành. Đài hợp, các thuỳ thẳng, trải ra và tồn tại trên quả. Cánh hoa thuôn, màu trắng, sau chuyển sang màu nâu, mỏng, dính nhau ở gốc, đỉnh có 3 phần phụ hình chuỳ. Nhị gấp đôi số cánh, không đều nhau. Bầu nửa dưới, 3 ô, mỗi ô chứa 2 noãn. Quả hình trứng, trụ mầm hình chuỳ có cạnh, không rõ. Quả tháng 5-8.
Bộ phận dùng: Vỏ, chồi cây (Cortex et Gemma Ceriops).
Phân bố và thu hái:Cây mọc trong rừng ngập mặn, nơi cạn, thường mọc lẫn với Đước và Vẹt, nhưng cũng có khi mọc thành rừng thuần loại.
Thành phần hoá học:Vỏ cây chứa tanin.
Tính vị, tác dụng:Vỏ làm săn da, có tác dụng cầm máu.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Gỗ cây dùng trong xây dựng và làm thuyền; còn dùng làm than củi cho nhiệt lượng cao. Vỏ dùng để nhuộm dây câu, lưới, buồm; có thể pha với thuốc nhuộm khác để nhuộm đỏ đen; còn được dùng để ăn với trầu. Vỏ cây dùng đắp cầm máu vết thương. Ở Châu Phi, có nơi người ta dùng nước sắc chồi cây thay thế quinin.