Showing posts with label SAPONIN. Show all posts
Showing posts with label SAPONIN. Show all posts

Thursday, 19 July 2012

SÂM NGỌC LINH-sâm Việt Nam-Panax vietnamensis

SÂM NGỌC LINH

 

Tên khoa học: Panax vietnamensis Ha et Grushv-họ Nhân sâm Araliaceae

Tên thường gọi: Sâm Ngọc Linh, sâm Việt Nam, sâm Khu Năm (sâm K5), sâm trúc (sâm đốt trúc, trúc tiết nhân sâm)

1.   Lịch sử phát hiện

Trước khi có sự phát hiện từ phía các nhà khoa học, sâm Ngọc Linh đã được các đồng bào dân tộc thiểu số Trung Trung bộ Việt Nam, đặc biệt là dân tộc Xê Đăng, sử dụng như một loại củ rừng, mà họ gọi là củ ngải rọm con hay cây thuốc giấu, chữa nhiều loại bệnh theo các phương thuốc cổ truyền. Dựa trên những thông tin lưu truyền trong cộng đồng các dân tộc thiểu số Quảng Nam, Kon Tum về một loại củ quý hiếm trên núi Ngọc Linh có tác dụng tốt đối với sức khỏe con người, và do nhu cầu của kháng chiến đã khiến ngành dược khu Trung Trung Bộ quyết phải tìm ra cây sâm chi Panax tại miền Trung, mặc dù trước đó nhiều nhà khoa học cho rằng chi Panax chỉ có ở miền Bắc.

Năm 1973, khu Y tế Trung Trung bộ cử một tổ 4 cán bộ do dược sĩ Đào Kim Long làm trưởng đoàn, kỹ sư Nguyễn Bá Hoạt, dược sĩ Nguyễn Châu Giang, dược sĩ Trần Thanh Dân là thành viên, đi điều tra phát hiện cây sâm theo hướng chân núi Ngọc Linh thuộc huyện Đắc Tô tỉnh Kon Tum. Khi đoàn lên tỉnh Kon Tum, Ban Dân y Kon Tum cử thêm dược tá Nguyễn Thị Lê trợ giúp cho đoàn, dẫn đường lên núi Ngọc Linh. Sau nhiều ngày vượt suối băng rừng, đến 9 giờ sáng ngày 19 tháng 03 năm 1973, ở độ cao 1.800 mét so với mặt biển, đoàn đã phát hiện hai cây sâm đầu tiên và ngay buổi chiều cùng ngày đã phát hiện được một vùng sâm rộng lớn thuộc phía Tây núi Ngọc Linh. Sau 15 ngày nghiên cứu toàn diện về hình thái, sinh thái, quần thể, quần lạc, phân bố, di cư và phát tán, dược sĩ Đào Kim Long đã xác định núi Ngọc Linh là quê hương của cây sâm mới, đặc biệt quý hiếm, chưa từng xuất hiện tại bất cứ nơi nào khác trên thế giới. Theo đánh giá của Tiến sĩ Trần Chí Liêm, Thứ trưởng Bộ Y tế Việt Nam: đây là cống hiến quan trọng cho khoa học, bổ sung tri thức mới về vùng phân bố chi Panax xuống tới vĩ tuyến 15 và bổ sung cho chi Panax họ Araliaceae một loài mới. Sau khi sâm được phát hiện, Khu uỷ Khu 5 đã chỉ đạo Ban Dân y bí mật bảo vệ và khai thác, giao cho xưởng Dược Trung Trung Bộ chế biến làm thuốc phục vụ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân; đồng thời gửi mẫu ra Bộ Y tế, Viện Dược liệu Hà Nội nghiên cứu.

Những năm sau khi hòa bình lập lại, tháng 10 năm 1978 một tổ công tác thứ hai lên vùng núi Ngọc Linh với nhiệm vụ ước lượng sơ bộ diện tích sâm mọc. Kết quả chuyến đi là việc tìm ra được một vùng dài hàng chục kilômét, có trữ lượng khoảng 6.000-7.000 cây sâm mọc dày đặc với mật độ từ 1 mét vuông một cây đến 7,8 mét vuông một cây.

Nǎm 1979, Trung tâm Y tế Quảng Nam tổ chức điều tra ở 5 xã của huyện Trà My với sự giúp đỡ của Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả đợt điều tra là việc tìm thấy 1.337 cây trong 211 ô tiêu chuẩn. Trọng lượng trung bình thân rễ sâm là 5,26 gam; số thân có trọng lượng trên 25 gam là 7,39% và số thân rễ có trên 10 sẹo (ước tính trên 8 năm tuổi) là 36,9%. Đợt điều tra này đã thu được 1 thân rễ có tới 52 sẹo (ước tính cây trên 50 năm tuổi), đường kính 1,2 cm, tuy đây chưa phải là thân rễ sống lâu nhất. Trong những đợt tìm kiếm, điều tra về sau còn phát hiện ra cây khoảng 82 năm tuổi có rễ, củ và thân rễ dài hơn nửa mét.

2.   Đặc điểm thực vật

Sâm Ngọc Linh có dạng thân khí sinh thẳng đứng, màu lục hoặc hơi tím, nhỏ, có đường kính thân độ 4-8mm, thường tàn lụi hàng năm tuy thỉnh thoảng cũng tồn tại một vài thân trong vài năm. Thân rễ nhiều đốt mang sẹo của những gốc thân mọc hàng năm lụi đi. Chiều dài và đường kính thân rễ thay đổi tùy theo độ tuổi của cây, thường dài 25cm, đường kính 1 – 3,5cm với cây khoảng 20 năm tuổi. Thân rễ cũng mang nhiều rễ nhánh và củ. Các thân mang và tương ứng với mỗi thân mang lá là một đốt dài khoảng 0,5-0,7 cm, tuy sâm chỉ có một lá duy nhất không rụng suốt từ năm thứ 1 đến năm thứ 3 và chỉ từ năm thứ 4 trở đi mới có thêm 2 đến 3 lá. Trên đỉnh của thân mang lá là lá kép hình chân vịt mọc vòng với 3-5 nhánh lá. Cuống lá kép dài 6-12mm, mang 5 lá chét, lá chét ở chính giữa lớn hơn cả với độ dài 12–15 cm, rộng 3–4 cm. Lá chét phiến hình bầu dục, mép khía răng cưa, chóp nhọn, lá có lông ở cả hai mặt. Cây 4-5 năm tuổi có hoa hình tán đơn mọc dưới các lá thẳng với thân, cuống tán hoa dài 10–20 cm có thể kèm 1-4 tán phụ hay một hoa riêng lẻ ở phía dưới tán chính. Mỗi tán có 60-100 hoa, cuống hoa ngắn 1-1.5 cm, lá đài 5, cánh hoa 5, màu vàng nhạt, nhị 5, bầu 1 ô với 1 vòi nhụy. Quả mọc tập trung ở trung tâm của tán lá, dài độ 0,8 cm-1 cm và rộng khoảng 0,5 cm-0,6 cm, sau hai tháng bắt đầu chuyển từ màu xanh đến xanh thẫm, vàng lục, khi chín ngả màu đỏ cam với một chấm đen không đều ở đỉnh quả. Quả hình thận và phần lớn chỉ chứa một hạt, và số quả trên cây bình quân khoảng 10 đến 30 quả.
Đặc điểm về mặt thực vật được phân biệt với các loại Panax khác ở chỗ loài này phần lớn là bầu 1 ô, một vòi nhụy, thỉnh thoảng cũng có trường hợp 2 ô nhưng không có 3 ô hoặc hơn. Trái hình thận và phần lớn chỉ chứa một hạt trong lúc các loài khác thường có 2 hạt hoặc hơn.

3.   Địa lý và trồng trọt

Phân bố: là loại sâm quý được tìm thấy tại miền Trung Trung Bộ Việt Nam, mọc tập trung ở các huyện miền núi Ngọc Linh thuộc huyện Đăk Tô tỉnh Kon Tum, huyện Trà My tỉnh Quảng Nam. Ngoài Ngọc Linh, sâm còn phân bố tại núi Ngọc Lum Heo thuộc xã Phước Lộc, huyện Phước Sơn và còn có thể có ở đỉnh Ngọc Am tỉnh Quảng Nam theo những kết quả điều tra mới nhất. Trên độ cao 1.200 đến 2.100m, sâm Ngọc Linh mọc dày thành đám dưới tán rừng dọc theo các suối ẩm trên đất nhiều mùn.
Trồng trọt: Mọc dưới tán rừng ẩm, nhiều mùn, thích hợp với nhiệt độ ban ngày từ 20°C-25°C, ban đêm 15°C-18°C, sâm Ngọc Linh có thể sống rất lâu, sinh trưởng khá chậm. Bộ phận dùng làm thuốc chủ yếu là thân rễ, củ và ngoài ra cũng có thể dùng lá và rễ con. Vào đầu tháng 1 hàng năm, sâm xuất hiện chồi mới sau mùa ngủ đông, thân khí sinh lớn dần lên thành cây sâm trưởng thành có 1 tán hoa. Từ tháng 4 đến tháng 6, cây nở hoa và kết quả. Tháng 7 bắt đầu có quả chín và kéo dài đến tháng 9. Cuối tháng 10, phần thân khí sinh tàn lụi dần, lá rụng, để lại một vết sẹo ở đầu củ sâm và cây bắt đầu giai đoạn ngủ đông hết tháng 12. Chính căn cứ vào vết sẹo trên đầu củ mỗi mùa đông đến mà người ta có thể nhận biết cây sâm bao nhiêu tuổi, phải ít nhất 3 năm tuổi tức trên củ có một sẹo (sau 3 năm đầu sâm chỉ rụng một lá) mới có thể khai thác.

4.   Thành phần hóa học

Từ năm 1973 đến nay, đã có nhiều cơ quan, nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu về sâm Ngọc Linh, và gần 50 nghiên cứu sinh đã bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ, tiến sĩ từ các công trình nghiên cứu về loài cây quý hiếm này, tiêu biểu gồm có:
- 1990: Nguyễn minh Đức, Yamasaki K. (Viện nghiên cứu khoa học Dược, Trường đại học YHiroshima - Nhật). Phân lập và xác định cấu trúc 49 saponin trong Sâm Việt Nam, phát hiện 24 saponin mới, đặt tên VG.R1-R24.
- 1999-2001: Võ duy Huấn, Yamasaki,  K. (Viện nghiên cứu khoa học Dược, Trường đại học Y Hiroshima – Nhật ). Phân lập và xác định cấu trúc 19 saponin trong lá Sâm Việt Nam, phát hiện 8 saponin mới đặt tên VG.L1-L8.
- 1999-2001: Trung tâm Sâm và Dược liệu Tp. HCM và Sở Y tế Quảng Nam. Tiêu chuẩn hóa nguyên liệu: phần thân rễ và rễ củ (đã đưa vào Dược điển Việt nam tập 3) và phần lá (dự thảo).
- 2001-2002: Trần lê Quan, Kadota, S.( Viện nghiên cứu Y học phương đông, Trường đại học Y Dược Toyama, Nhật bản.). Phát hiên thêm 3 saponin và 1 genin trong Sâm Việt Nam, 2 saponin mới là 20-O-Me-G.Rh1 và VG-R25.
Hợp chất saponin được xem là thành phần hoạt chất chủ yếu của cây Sâm Việt Nam cũng như của các loài sâm khác trên thế giới. Từ phần dưới mặt đất của Sâm Việt Nam hoang dại đã phân lập và xác định được cấu trúc protopanaxadiol oxid II và 52 hợp chất saponin bao gồm  26 saponin đã biết và 26 saponin có cấu trúc mới được đặt tên là vina-ginsenoside-R1-R24 và 20- O-Me-G.Rh. Các saponin dammaran được xem là hoạt chất quyết định cho các tác dụng sinh học có gía trị của Sâm Triều tiên cũng chiếm một tỉ lệ rất cao về hàm lượng và số lượng trong thành phần hợp chất saponin của Sâm Việt Nam (50/52saponin được phân lập). Trong đó các saponin dẫn chất của 20(S)-protopanaxadiol gồm 22 hợp chất với các đại diện chính là: ginsenoside-Rb1, -Rb3, -Rd. Các saponin dẫn chất của 20(S)-protopanaxatriol gồm 17 hợp chất với các đại diện chính là: ginsenoside- Re, -Rg1, notoginsenoside –R1. Các saponin có cấu trúc ocotillol gồm 11 hợp chất với các đại diện chính là: majonoside –R1 và –R2. Đặc biệt M-R2 chiếm gần 50% hàm lượng saponin toàn phần từ phần dưới mặt đất của Sâm Việt Nam và trở thành một hợp chất chủ yếu của Sâm Việt Nam so với thành phần saponin trong các loài sâm khác trên thế giới và gấp 48 lần hiệu suất chiết được từ Đại diệp tam thất (Panax japonicum C.A. Mey. Var. major (Burk.) C.Y.Wu et K.M.Feng. Hai saponin dẫn chất của acid oleanolic chỉ chiếm một tỉ lệ rất thấp với hemsloside –Ma3 được phát hiện đầu tiên trong một loài Panax thuộc họ Nhân sâm. Hợp chất này trước đây đã được phân lập từ Hemsleya macrosperma C.Y.Wu họ Bầu bí Cucurbitaceae.
Như vậy, sâm Việt Nam là một trong những loại sâm có hàm lượng saponin nhiều nhất, tương tự một số cây sâm quý đã từng được nghiên cứu sử dụng từ lâu trên thế giới… Hợp chất hóa học đa dạng và tác dụng thực tiễn đối với sức khỏe của con người khiến sâm Ngọc Linh hiện nay được bán trên thị trường với giá càng ngày càng cao, thậm chí còn cao hơn sâm Triều Tiên nhiều lần.
Ngoài ra trong sâm Ngọc Linh còn có 17 acid béo, 17 acid amin (bảng 1) trong đó có 8 acid amin không thay thế được và 20 nguyên tố đa lượng, vi lượng.
Bảng 1: Thành phần acid amin :
STT
Acid amin
Acid amin tự do(%)
Axit amin thủy giải (%)
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17

Tryptophan
Lysin
Histidin
Arginin
Axit Aspartic
Threonin
Serin
Axit Glutamic
Prolin
Glycin
Alanin
Cystin
Valin
Methionin
Isoleucin
Tyrosin
Phenylanin
10,20
17,9
1,02
46,66
7,60
1,20
5,12
2,05
3,07
4,10
-
1,53
0,51
0,51
1,02
0,51
0,51
-
5,29
2,59
12,90
10,38
5,19
5,19
6,49
15,58
5,19
5,19
vết
1,29
vết
2,59
5,19
6,49

5.         Công dụng

Trước khi có những nghiên cứu kỹ lưỡng về tác dụng đối với sức khỏe của sâm Ngọc Linh, sâm đã được các dân tộc thiểu số Việt Nam, như người Xê Đăng, dùng như một loại thuốc trong những bài thuốc cổ truyền cầm máu, lành vết thương, làm thuốc bổ, sốt rét, đau bụng, phù thũng.
Công bố của Viện Dược liệu Việt Nam, cho thấy sâm Ngọc Linh có tác tác dụng chống stress vật lý, stress tâm lý và trầm cảm, kích thích hệ miễn dịch, chống oxy hóa, lão hóa, phòng chống ung thư, bảo vệ tế bào gan. Bên cạnh đó, sâm Ngọc Linh cũng có tác dụng giúp người bệnh ăn ngon, ngủ tốt, lên cân, tăng thị lực, hoạt động trí tuệ và thể lực cải thiện, gia tăng sức đề kháng, cải thiện các trường hợp suy nhược thần kinh và suy nhược sinh dục, nâng cao huyết áp ở người bị huyết áp thấp, chống ôxi hóa, lão hóa, phòng chống ung thư, bảo vệ tế bào gan.

Nghiên cứu dược lý lâm sàng của sâm Ngọc Linh cũng cho kết quả tốt: bệnh nhân ăn ngon, ngủ tốt, lên cân, tăng thị lực, hoạt động trí tuệ và thể lực cải thiện, gia tăng sức đề kháng, cải thiện các trường hợp suy nhược thần kinh và suy nhược sinh dục, nâng cao huyết áp ở người bị huyết áp thấp. Ngoài những tác dụng như trên, theo dược sĩ Đào Kim Long, sâm Ngọc Linh có những tính năng tuyệt hảo như tăng lực, phục hồi sự suy giảm chức năng giúp cho tình trạng của cơ thể trở lại bình thường; kháng các độc tố gây hại tế bào, giúp kéo dài sự sống của tế bào và tăng các tế bào mới. Đặc biệt, sâm Ngọc Linh có những tính năng mà sâm Triều Tiên và sâm Trung Quốc không có là tính kháng khuẩn, chống trầm cảm, giảm lo âu, chống oxy hóa.

6.   Nghiên cứu và phát triển sản phẩm từ Sâm Ngọc Linh

Từ các kinh nghiệm dân gian và các công trình nghiên cứu, Trạm nghiên cứu dược liệu Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (trước đây) và Xí nghiệp dược phẩm Đà Nẵng đã chế các dược phẩm như tinh sâm quy Ngọc Linh, sâm quy mật ong... có chứa sâm Ngọc Linh.
Trung tâm Khoa học sản xuất Sâm Việt Nam thuộc Bộ Y tế đã nghiên cứu và đưa ra thị trường các chế phẩm từ cây sâm này, như Vinaginseng pastilles, mỗi viên chứa 12mg saponin Sâm Việt Nam; Vinapanax viên (viên ngậm) chứa 10mg saponin Sâm Việt Nam, mỗi viên và sâm quy dưỡng lực với một số dược liệu khác (bạch truật, đương quy, thục địa, cam thảo…); thuốc Vina-ginseng extractum có nhiều công dụng quý như bổ toàn thân, trị suy nhược cơ thể, bổ thần kinh và sinh dục, tǎng sức, trí nhớ...
Ngoài ra còn có các chế phẩm khác từ Sâm Ngọc Linh như: rượu sâm, sâm ngâm mật ong, sâm khô cắt lát, sâm tươi…

7.   Bảo tồn và nhân giống

Sau khi dược tính và tác dụng đối với sức khỏe của sâm Ngọc Linh được công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, những năm 80 của thế kỷ 20, trên thị trường tự do giá sâm Ngọc Linh tương đương giá sâm Triều Tiên và vào những năm 90, giá sâm Ngọc Linh còn đắt hơn sâm Triều Tiên nhiều lần. Theo dược sĩ Đào Kim Long thì ngay cả dân Hàn Quốc, Nhật Bản, xứ sở của sâm, cũng qua đây tìm cho được sâm Ngọc Linh để chữa bệnh. Việc khai thác, mua bán và sử dụng tràn lan chưa có quy định quản lý, bảo vệ cùng các chính sách, giải pháp đầu tư, quy hoạch phát triển khiến trên 108 vùng sâm mọc tự nhiên giữa Quảng Nam và Kon Tum dần cạn kiệt, kéo theo hàng ngàn hecta rừng nguyên sinh bị tàn phá nặng nề.
Trước nguy cơ tuyệt chủng của giống sâm quý, Chính phủ Việt Nam đã quyết định thành lập vùng cấm quốc gia ở khu vực có sâm mọc tập trung tại 2 tỉnh Kon Tum và Quảng Nam, đồng thời xếp sâm Ngọc Linh vào danh sách các loại cây cấm khai thác, mua bán bất hợp pháp.
Nhận thức đúng đắn về giá trị kinh tế, xã hội, khoa học và môi trường của cây sâm Ngọc Linh, cách đây gần 30 năm tỉnh Kon Tum đã xác định đây là cây hàng hóa chủ lực có lợi thế cạnh tranh cao trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Tỉnh Ủy, HĐND-UBND tỉnh, trong những năm qua, Sở Khoa học và Công nghệ đã phối hợp các ngành liên quan, các nhà khoa học trong và ngoài tỉnh triển khai nhiều đề tài, dự án nghiên cứu việc bảo tồn và phát triển cây sâm Ngọc Linh.
Năm 2001, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Kon Tum đã phối hợp với Viện D­ược liệu (Bộ Y tế), Trung tâm Nghiên cứu trồng và Chế biến cây thuốc (Hà Nội), Lâm tr­ường Ngọc Linh ( nay là Công ty TNHH MTV Đăk Tô) triển khai thực hiện dự án “Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ sản xuất giống, kỹ thuật trồng và quy hoạch phát triển cây sâm Ngọc Linh tại Kon Tum”. Dự án đã tập trung xây dựng vườn sâm giống (ở độ cao 1.900 - 2.000 m) trên diện tích gần 1,12ha với hơn 60.000 cây sâm giống để phát triển vùng sâm trồng của tỉnh. Đồng thời, đã chuyển giao trên 13.550 cây sâm giống cho 24 hộ gia đình tại xã Ngọc Lây (huyện Tu Mơ Rông) trồng thử nghiệm để triển khai nhân rộng. Thông qua dự án cũng đã xây dựng được quy trình nhân giống bằng hạt và quy trình kỹ thuật trồng sâm bán tự nhiên, phát triển mô hình đến các hộ nông dân vùng sâu, vùng xa, từng b­ước nghiên cứu trồng sâm ở mô hình trang trại để phát triển nhanh diện tích trồng sâm Ngọc Linh và đề xuất quy hoạch phát triển. Đã tiến hành quy hoạch sơ bộ tại các xã  Măng Ri, Ngọc Lây, Ngọc Yêu, Đăk Na, Mường Hoong, Ngọc Linh với diện tích 66.830 ha, ở nhiệt độ trung bình năm 180C ; ẩm độ từ 82 - 87% và độ cao trung bình từ 2.100 - 2.800m, tại các tọa độ địa lý : 16o38’ - 16o85’ độ vĩ Bắc và 107o99’ - 108o40’ độ kinh Đông. Kết quả của dự án bư­ớc đầu đã khôi phục vư­ờn sâm giống có khả năng cung cấp giống mở rộng qui mô trong thời gian tới. Mô hình trồng sâm trên vùng sinh trư­ởng tự nhiên và bán tự nhiên cho thấy cây sâm sinh trưởng và phát triển tốt, đầu tư­ ít, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Sâm giống được giao cho từng hộ gia đình trồng, chăm sóc và quản lý đã phát huy đ­ược ý thức trách nhiệm của từng hộ. Đây là mô hình nếu được đầu t­ư thỏa đáng sẽ mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần xóa đói giảm nghèo cho các hộ gia đình sống ở vùng núi Ngọc Linh.
Năm 2006, Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt đề tài: Nghiên cứu nhân giống vô tính và sản xuất sinh khối rễ cây sâm Ngọc Linh, với tổng kinh phí đầu tư 1,7 tỷ đồng. Viện Sinh học Tây nguyên đã phối hợp với Trung tâm ứng dụng và chuyển giao công nghệ tỉnh Kon Tum đã nghiên cứu nhân giống in vitro cây Sâm Ngọc Linh và trồng thử nghiệm cây Sâm nuôi cấy mô ra tại xã Tê Xăng (huyện Tu Mơ Rông) và Bidunop Núi Bà (Lâm Đồng). Kết quả đề tài bước đầu cho thấy cây sâm Ngọc Linh nuôi cấy mô đã sinh trưởng và phát triển  tốt trên những vùng có hệ sinh thái đặc trưng tương đồng với các điều kiện sinh thái của cây sâm Ngọc Linh sống ngoài tự nhiên không những ở quanh đỉnh Ngọc Linh mà được di thực trồng tại Bidunop Núi Bà ( Lâm Đồng) cũng cho kết quả khả quan. Trong thời gian không xa nữa đề tài hoàn tất tháng 7/2011, chúng ta có thể chủ động được nguồn giống sâm Ngọc Linh với qui mô lớn và chọn được cây giống tiêu chuẩn. Đồng thời công nghệ sản xuất sinh khối rễ sâm bằng hệ thống Bioractor được triển khai nhân rộng mô hình thành sản phẩm hàng hóa.

Tuesday, 31 January 2012

THIÊN MÔN-Asparagus cochinchinensis


THIÊN MÔN

Radix Asparagi cochinchinensis.

Dược liệu là rễ củ phơi khô của cây thiên môn - Asparagus cochinchinensis (Lour.) Merr. , họ Thiên môn - Asparagaceae.

Đặc điểm thực vật và phân bố.

Thiên môn là một loại dây leo, sống lâu năm. Thân mang nhiều cành 3 cạnh, đầu nhọn, biến dạng trông như lá, còn lá thì rất nhỏ trông như vẩy. Hoa nhỏ màu trắng mọc vào mùa hạ. Quả mọng màu đỏ khi chín.
Cây thiên môn có ở nhiều nơi như Thanh Hoá, Quảng Ninh, Bắc Thái, Cao bằng, Lạng Sơn... các nước khác như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản cũng có.

Thu hái, chế biến.
Rễ củ thu hái vào thu đông ở những cây mọc được 2 năm trở lên. Sau khi rửa sạch, cắt bỏ đầu và rễ con, đem đồ qua hơi nước. Lúc còn nóng bóc bỏ vỏ rồi phơi hoặc sấy cho khô. Dược liệu có vị ngọt hơi đắng.

Thành phần hoá học.
- Một sapogenin steroid đã được phân lập và xác định là sarsasapogenin (công thức xem phần đại cương).
- Các amino acid tự do: asparagin, citrulin, serin, threonin, prolin, glycin, alanin, valin, methionin, leucin, phenylalanin, tyroxin, acid aspartic, acid glutamic, arginin, histidin, lysin.
- Carbohydrat: 7 chất oligosaccharid đã được phân lập và xác định: neokestose và 6 oligosaccharid khác cấu tạo bởi các đơn vị fructofuranose nối với nhau theo dây nối 2-1 và tận cùng bởi neokestose ở cuối mỗi phân tử.

Công dụng
Thuốc làm long đờm, chữa ho, thuốc lợi tiểu. Chữa triệu chứng bồn chồn, mất ngủ, táo bón.


www.duoclieu.org 
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

MẠCH MÔN-Ophiopogon japonicus


MẠCH MÔN

Radix Ophiopogonis

Mạch môn là rễ củ phơi hay sấy khô của cây mạch môn - Ophiopogon japonicus (L.f.) Ker. Gawl., Họ hoàng tinh (Convallariaceae).

Đặc điểm thực vật và phân bố.

Cây thuộc thảo cao 10-40 cm. Lá mọc từ gốc, hẹp, dài, gân lá song song, mặt trên màu xanh thẫm, mặt dưới trắng nhạt. Hoa màu lơ nhạt mọc thành chùm, quả mọng màu tím. Rễ chùm có nhiều rễ phình thành củ nhỏ hình thoi. Cây được trồng một số tỉnh ở miền Bắc. Đôi khi gặp mọc hoang. 


Thu hái, chế biến:

Rễ củ thu hoạch vào tháng 9-12 ở những cây mọc được 2 năm, cắt bỏ rễ con, rửa sạch, củ nhỏ để nguyên, củ to bổ đôi, phơi hay sấy nhẹ cho khô.
Dược liệu hình thoi dài 2-7 cm, rộng 0,2-0,8 cm. Vị ngọt hơi đắng. 

Thành phần hoá học
- Saponin steroid: ophiopogonin A,B,C,D. ophiopogonin A,B và D khi thủy phân cho phần aglycon là ruscogenin. Cấu trúc của ophiopogonin B và D đã được xác định. Mạch đường đặc biệt được nối vào OH ở C1.
-Carbohydrat gồm có một số glucofructan và một số monosaccharid: glucose, fructose và saccharose.
- b -sitosterol, stigmasterol và b -sitosterol b -D-glucosid




Công dụng

Thuốc giảm ho, tiêu đờm, chữa táo bón, lợi tiểu.
Ngày dùng 6-20g dưới dạng thuốc sắc.

www.duoclieu.org


TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

KHÚC KHẮC-Smilax


KHÚC KHẮC

Smilax

Các nước Á Đông cũng như các nước ở châu Âu đều có dùng thân rễ của một số loài thuộc chi Smilax, họ Khúc khắc - Smilacaceae.


Đặc điểm thực vật chi Smilax.
Cây bụi leo, thân rễ có thể phình to, lá mọc so le, có 3-7 gân hình cung nổi rõ xuất phát từ gốc lên đến đỉnh lá. Đặc biệt mỗi cuống lá có mang 2 tua cuốn do lá kèm biến đổi. Hoa nhỏ, đơn tính khác gốc, họp thành cụm hoa hình tán, mỗi hoa có 3 lá đài, 3 cánh hoa, 6 nhị đính vào gốc cánh hoa. Bầu 3 ô, mỗi ô có 1-2 noãn, vòi ngắn, núm chia 3. Quả mọng hình cầu.
Các loài dùng ở Á Đông:
- Smilax glabra Roxb. được mang tên là Thổ phục linh còn gọi là thổ tỳ giải. Vị thuốc này được ghi trong Dược điển đông y Trung quốc. Cây thổ phục linh có thân leo dài 4-5 m, nhỏ, nhẵn, không có gai. Lá trái xoan thuôn, đỉnh nhọn, gốc nhọn, có 3-5 gân chính xuất phát từ gốc đến đỉnh lá. Lá nhẵn, mặt dưới lá thường có lớp sáp trắng, cuống lá dài 1-1,5cm. Lá kèm biến thành 2 tua cuốn tiêu giảm thành mũi nhọn ngắn, có khi kéo dài. Hoa đơn tính khác gốc. Cụm hoa tán mọc ở nách lá, cuống chung 2-5 mm. Cuống hoa nhỏ dài 1-1,5 cm. Ra hoa mùa hạ. Quả mọng, đường kính 6-8 mm, màu đỏ.

Cây này mọc hoang ở các đồi núi nước ta. Thu hoạch vào cuối thu, sang đông. Đào lấy thân rễ (thường ăn sâu đến 1m hoặc hơn), cắt bỏ rễ nhỏ, rửa sạch, thái thành lát mỏng, hoặc để nguyên phơi khô. Dược liệu (nguyên) sau khi chế biến thì hình thù không nhất định, to nhỏ không đều, thường hình trụ dẹt dài có thể đến 20 cm, rộng đến 5 cm. Mặt ngoài nâu nhạt, xù xì, thường có vết dao gọt và phần còn lại của rễ phụ, phần trên có vết của thân. Chất cứng khó bẻ, chỗ bẻ có chất bột, không mùi, vị nhạt. Thổ phục linh có bột nhiều là loại tốt. Khi cần thái thì phải ngâm nước cho mềm (thay nước cho khỏi thối) thái, sau đó phơi khô ngay.

- Smilax china Lin. có tên là bạt khế, kim cang hay bạch phục linh (đừng nhầm với bạch linh hay phục linh- Poria cocos Wolf.). Cây này khác cây Smilax glabra Roxb. ở chỗ là thân có gai thưa. Lá hình trứng tròn dài 3-6 cm, rộng 2-5 cm, gốc lá đột nhiên thót thành mũi nhọn.
Ở Trung Quốc còn dùng thân rễ loài Smilax sieboldii Miq.
Các loài dùng ở châu Âu:
- Smilax medica Schecht. et Cham.
- Smilax aristolochiaefolia Mill.
- Smilax ornata Kook.
- Smilax aspera L.


Thành phần hoá học.
Thân rễ các loài Smilax thường có tinh bột, giàu các chất vô cơ. Thành phần đáng chú ý là các saponosid steroid :
-Từ S.medica Schlecht. et Cham. người ta đã chiết được sarsasaponosid ở dạng kết tinh. Chất này có phần sapogenin là sarsasapogenin (xem phần đại cương), phần đường gồm D- glucose và L- rhamnose.
- Từ S.ornata Hook. f. người ta đã phân lập được smilasaponosid có phần aglycon là smilagenin.
- Từ S. aristolochiaefolia Mill. đã phân lập được parillin có phần aglycon là sarsasapogenin và phần đường gồm có 3 glucose và một rhamnose. Năm 1969 R.Tschesle và các cộng sự đã phân lập thêm một saponosid khác là sarsaparillosid.
Các loài ở Á Đông, có một số tài liệu nói có saponin nhưng chưa được nghiên cứu kỹ. Riêng loài S. glabra Roxb. thì có một số chất sau đã được phân lập từ thân rễ: astilbin, engeletin, 0(3)-caffeoylshikimic acid, shikimic acid, ferulic acid, b -sitosterin. Từ lá sau khi thủy phân có quercetin và kaempferol.


Công dụng
    Y học dân tộc cổ truyền dùng vị thổ phục linh để chữa thấp khớp, đau xương, thuốc bổ gân cốt, thuốc lợi tiểu, tẩy độc cơ thể, chữa mụn nhọt, lở ngứa, chữa giang mai. Liều dùng 10-20g hoặc có thể cao hơn dưới dạng thuốc sắc.
    Ở phương Tây, những vị thuốc Smilax do người Tây Ban Nha đưa vào châu Âu vào thế kỷ XVI. Họ cũng dùng tương tự như Á Đông: chữa thấp khớp, một số bệnh ngoài da, chữa giang mai, thông tiểu, tẩy độc cơ thể, giúp cho sự hấp thu các  thuốc khác. Ở Mỹ, Smilax còn được dùng để chế các loại nước uống không chứa rượu.

www.duoclieu.org


TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật
 

CÂY DỨA MỸ-Agave


CÂY DỨA MỸ

Agave


Đặc điểm thực vật và phân bố

Chi Agave thuộc họ Dứa Mỹ - Agavaceae, có rất nhiều loài được phân bố nhiều nơi trên thế giới: Mêxicô, Đông Phi, Ấn Độ... Ở Mêxicô có khoảng 275 loài. Loài quan trọng nhất là Agave sisalana Perr. và A. fourcroydes Lem.. Ở nước ta có loài Agave americana L. gọi là cây thùa, cây dứa Mỹ. Cây nhập nội, trồng để làm cảnh nay đã trở thành cây mọc dại, trồng làm hàng rào, để lấy sợi. Mỗi cây có thể mang hàng chục lá mọc từ gốc lên như cây dứa (thơm). Mép lá có gai cứng bóng và cong, Ngọn lá tận cùng bởi 1 gai nhọn. Cây chỉ ra hoa một lần sau 5-15 năm tuổi và sau đó cây lụi đi. Khi ra hoa thì trục hoa mọc thẳng lên từ giữa vòng lá. Trục hoa cao 4-6 m, đường kính khoảng 10cm, mang hàng nghìn hoa rất đẹp giống giá đèn cắm nhiều nến. Đặc biệt cây có thể mọc được ở những nơi đất khô cằn, có thể trồng để xanh hoá đồi trọc. Bằng kỹ thuật nuôi cấy mô, từ năm 1986 nhóm nghiên cứu thuộc Viện Sinh vật học Việt Nam đã tạo được nguồn cây giống từ 2 loài sisalanacantala. Đến năm 1991 đã nhân giống hơn mười vạn cây đưa trồng ở Hải Phòng, Quảng Trị, Minh Hải.


Thành phần hoá học
Lá của các loài Agave đều chứa đường khử, saccharose, chất nhầy và acid ascorbic. Đáng chú ý là các saponin steroid. Theo Wall thì 60% các loài có chứa saponin. Đặc biệt từ một số loài như Agave americana L., A.sisalana Perrine, A.fourcroydes Lem. người ta đã chiết xuất được nhiều chất saponin khi thủy phân cho sapogenin chính là hecogenin thuộc nhóm spirostan có nhóm chức carbonyl ở C-12. Hecogenin đầu tiên được Marker và các cộng sự phân lập (1943) từ cây Hechtia texensis S.Wats họ Dứa - Bromeliaceae.

Từ một loài Agave ở Việt Nam, bộ môn Dược liệu trường Đại học Dược khoa Hà Nội cũng đã chiết được hecogenin với hiệu suất 0,03% theo lá tươi (Dược học số 6 - 1974).
Khi chiết xuất lớn có thể cho dịch lá (là dư phẩm chế biến sợi) vào bể chứa để lên men rồi thu lấy chất lắng đọng như bùn giàu sapogenin (5-10%). Thủy phân thêm bằng acid rồi chiết genin bằng dung môi hữu cơ ví dụ heptan nóng. Tiếp theo là giai đoạn tinh chế.
Dùng phương pháp sắc ký lớp mỏng, để xác định hecogenin: sapogenin được hoà tan trong hỗn hợp chloroform - methanol để chấm lên bản mỏng silicagel G. Khai triển bằng các hệ dung môi: Chloroform - acetat ethyl (9:1), chloroform - aceton (9:1), chloroform - aceton - acid acetic (80:20:5). Hiện màu bằng thuốc thử Sannié (xem phần đại cương) H2SO4 , H3PO4 đậm đặc hoặc SbCl3 bão hoà trong chloroform rồi soi dưới ánh đèn phân tích tử ngoại, vết phải trùng với hecogenin chuẩn.
 
Công dụng
Trên thế giới, người ta sản xuất sợi từ các loài Agave chủ yếu là Agave sisalana Perrine. Cây Agave ở nước ta cũng có nơi đã khai thác sợi. Sợi chắc bền, có thể dùng để làm dây thừng, dệt bao bì...
Hecogenin cũng như diosgenin là nguyên liệu để bán tổng hợp các thuốc steroid.



www.duoclieu.org


TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

TỲ GIẢI-Dioscorea tokoro


TỲ GIẢI

Rhizoma Dioscoreae

Bộ phận dùng là thân rễ của cây tỳ giải (hay xuyên tỳ giải, phấn tỳ giải, tất giả) - Dioscorea tokoro Makino, họ Củ nâu - Dioscoreaceae.

Đặc điểm thực vật
Cây leo bằng thân quấn. Rễ củ sống dai dưới đất, phình to thành củ. Lá mọc so le, hình tim, có 7-9-11 gân hình chân vịt nổi rõ. Cuống là dài. Hoa đơn tính khác gốc, đều nhỏ, màu xanh nhạt, mọc thành bông. Quả nang có cánh. Cây này mọc ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam,... là những tỉnh của Trung Quốc giáp giới miền Bắc nước ta. Ở Trung Quốc ngoài D.tokoro, người ta còn khai thác một số cây khác thuộc chi Dioscorea làm vị thuốc tỳ giải. Ở nước ta cũng có khai thác vị thuốc mang tên tỳ giải nhưng chưa xác định tên khoa học chắc chắn.

Thành phần hoá học
Năm 1936, các nhà hoá học Nhật Tsukano và Ueno đã tách được diosgenin từ củ tỳ giải. Đây là sapogenin steroid đầu tiên được biết có nối đôi ở 5-6. Ngoài ra trong tỳ giải còn có những sapogenin khác: yonogenin (25R, 5b -spirostan 2b , 3a -diol); tokorogenin (25R, 5b -spirostan 1b ,2b ,3a -triol); kogagenin (25R, 5b -spirostan 1b ,2b , 3a ,5b -tetraol); igagenin (25R,5b -spirostan 2b ,3a ,27-triol); isodiotigenin (25R, 5b -spirostan 2b ,3a ,4b -triol). Tỷ lệ sapogenin toàn phần 1-1,5%.

Phát hiện các sapogenin: ngoài các phương pháp như xác định tác dụng phá huyết, tạo bọt (xem phần đại cương), có thể tiến hành sắc ký giấy hoặc sắc ký lớp mỏng để theo dõi các sapogenin. Nguyên liệu chiết bằng methanol, bốc hơi, chiết cắn methanol bằng ether. Dung dịch ether dùng để tìm các sapogenin tự do. Phần còn lại đem thủy phân trong methanol có chứa 5% HCl (đun hồi lưu). Dịch thủy phân đem lắc với ether, bốc hơi ether rồi hoà lại trong methanol để tiến hành sắc ký.

Sắc ký giấy: khai triển bằng dung môi thích hợp ví dụ: toluen-acid acetic (50:3). Để khô, hiện màu bằng phun dung dịch aldehyd cinnamic 1% trong ethanol, sấy nóng rồi phun với dung dịch gồm 25 mg SbCl3 trong 5ml nitro benzen rồi lại sấy nóng. Các sapogenin steroid sẽ hiện màu vàng đến cam. Có thể dùng thuốc thử Sannié.

Sắc ký lớp mỏng: chất hấp phụ là silicagel G, khai triển bằng dung môi thích hợp ví dụ: chloroform-aceton-acid acetic (80:20:5), hiện màu bằng hơi iod hoặc bằng thuốc thử Sannié.
Định lượng diosgenin: diosgenin sau khi phát hiện trên bản mỏng bằng hơi iod; chiết bằng chloroform lên màu bằng FeCl3 và H3PO4-H2SO4 (10:1) (tt/tt), đo ở 485 nm.

Công dụng:
Y học dân tộc cổ truyền dùng tỳ giải làm thuốc lợi tiểu, chữa viêm bàng quang mãn tính, viêm niệu đạo, chữa thấp khớp. Dùng dưới dạng thuốc sắc. Ngày dùng 12-18g.
Có thể dùng để chiết diosgenin để làm nguyên liệu bán tổng hợp các thuốc steroid.
Sau đây là một quy trình chiết diosgenin: Nguyên liệu được chiết bằng chloroform để loại tạp. Chiết tiếp bằng ethanol 96%. Cất thu hồi ethanol. Cắn được thủy phân bằng HCl 2N (đun cách thủy trong 5 giờ). Lọc lấy tủa, rửa tủa bằng dung dịch natri bicarbonat bão hòa trong nước rồi sấy ở 600C.
Bột khô được chiết bằng cyclohexan nóng, để lạnh diosgenin sẽ kết tinh. Có thể kết tinh lại trong methanol, aceton.
Để nâng cao hàm lượng diosgenin trong nguyên liệu, người ta dùng phương pháp ủ nguyên liệu tươi với nước có thêm các chất kích thích sinh trưởng như indol-3-acetic acid, acid gibberellic, 2,4-D. Đối với củ Dioscorea belizenzis hiệu suất tăng lên 15%, củ Dioscorea deltoidea và hạt Trigonella foenumgraecum thì tăng 35%. Đặc biệt đối với thân hành mía dò Costus speciosus Sims., thí nghiệm thấy mẫu đối chứng hàm lượng diosgenin 1,3% tăng lên 3,5% khi ủ với nước và tăng lên 5% khi ủ với 2,4-D.
Người ta đã nghiên cứu các phương pháp chuyển diosgenin thành pregnenolon rồi từ đó chuyển thành các chất estrogen và androgen. Khả năng dùng phương pháp vi sinh gắn nhóm hydroxyl hoặc carbonyl ở vị trí 11 dẫn đến việc dùng diosgenin để điều chế các thuốc corticoid. Hiện nay hằng năm trên thế giới sản xuất gần 1000 tấn diosgenin. Nước sản xuất nhiều nhất là Mêxico, số tiền thu được lên đến 10 triệu đô la.
Chi Dioscorea có đến 600 loài, số loài chứa nhóm sapogenin nhóm spirostan có hàm lượng trên 0,1% chiếm khoảng 30% phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Người ta đã phát hiện và đưa vào trồng trọt nhiều loài Dioscorea chứa diosgenin với hàm lượng cao như D. composita Hemsl., D. floribunda Mart. et Gal., D. deltoidea Wall. chứa 4-5% diosgenin. Đặc biệt loài D. spiculiflora Hemsl. ở Mêxico hàm lượng sapogenin tới 15%.
Dasgupta B. và Pandy V.B. (1971) phát hiện diosgenin có trong cây mía dò Costus speciosus (Koenig) Sm. thuộc họ Mía dò (Costaceae). Viện Dược liệu Việt Nam cũng đã chiết xuất được diosgenin (1975) từ cây mía dò mọc ở miền Bắc với hiệu suất 0,5-0,6%.
Trong cây bảy lá một hoa - Paris polyphylla Sm. thuộc họ Bảy lá một hoa (Trilliaceae) có mọc ở Cúc Phương, Sapa cũng có diosgenin.
Từ bộ phận trên mặt đất của cây cà lá xẻ Solanum laciniatum Ait., Madeva và Stepanova (1965) thấy có các saponin steroid, khi thủy phân cho khoảng 0,20% diosgenin bên cạnh các glycoalkaloid.
Diosgenin có trong nhiều chi thực vật khác.



www.duoclieu.org


TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật


CAM THẢO DÂY-Abrus precatorius


CAM THẢO DÂY

Herba Abri precatorii

Dược liệu là bộ phận trên mặt đất của cây cam thảo dây Abrus precatorius L., họ Đậu - Fabaceae.

Đặc điểm thực vật
Cam thảo dây là một loại dây leo nhỏ, thân có nhiều sợi, lá kép lông chim có 8-20 đôi lá chét nhỏ (15x5mm). Hoa màu hồng, hình cánh bướm - Quả dài 3 cm, rộng 12-15 mm, dầy 7-8 mm. Hạt hình trứng, vỏ hạt rất cứng, bóng, màu đỏ, có một điểm đen lớn quanh rốn hạt. Cam thảo dây mọc hoang ở bờ bụi và có được trông nhưng không nhiều lắm. Dùng dây và lá, không dùng quả và hạt.


Thành phần hoá học

- Lá và dây có các saponin: abrusosid A,B,C,D. Đây là thành phần chính có vị rất ngọt. Các saponin này có cấu trúc 9,19 cyclo (9b ) lanostan (= cycloartan), mạch nhánh được đóng vòng lacton ở C-22- C-26. 4 saponin trên có phần aglycon giống nhau là abrusogenin chỉ khác phần đường nối vào OH ở vị trí số 3.
Ngoài saponin, lá và dây còn chứa các flavonoid: luteolin, abrectorin (= 6,4'-dimethoxy,7,3'-dihydroxyflavon),orientin, isoorientin, desmethoxycentaure-idin -7-O-rutinosid, abrusin và 2''-O-b -apiosyl của abrusin.
- Hạt có L-abrine là một alcaloid âm tính với thuốc thử Dragendorff còn với thuốc thử Ehrlich cho màu tím. Lá và rễ cũng có L-abrine nhưng hàm lượng thấp. Trong hạt còn có: hypaphorin, precatorin, trigonellin, N,N-dimethyl tryptophan methyl ester. Hạt còn chứa một chất albumin độc có tên là abrin*, ngoài ra còn có các dẫn chất khác: stigmasterol, brassicasterol, cycloartenol, squalen, 5-b -cholanic acid.





- Rễ có các chất flavonoid: abruquinon A, abruquinon B (= 8-methoxya-bruquinon A), abruqinon C (= 8-methoxy, 6-O-de-Me abruquinon A)

Công dụng

Nhân dân ta dùng cam thảo dây để chữa ho, giải cảm. Một số nước ngoài cũng có dùng trong phạm vi thuốc dân gian để thay cam thảo.
Ngày dùng 8-16 g, thuốc sắc.
Hạt trước đây có dùng để chữa các bệnh về mắt nhưng hiện nay hầu như không dùng nữa.

 * Chú thích: L-abrine khác abrin.



 www.duoclieu.org


TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

TÁO NHÂN-Ziziphus mauritiana


TÁO NHÂN

Semen Ziziphi


Dược liệu là hạt già phơi hoặc sấy khô của cây táo ta - Ziziphus mauritiana Lamk. (=Z.jujuba Lam.), họ Táo ta - Rhamnaceae. Hạt táo đã được ghi vào Dược điển Việt Nam. Trung Quốc dùng hạt của cây Z.jujuba Mill. hoặc Z.vulgaris var. spinosus.

Đặc điểm thực vật


Cây nhỡ cao 2-4 m có gai, cành nhiều. Lá hình trứng, mặt trên màu xanh lục, mặt dưới có lông trắng, có 3 gân dọc lồi lên rõ. Hoa màu vàng xanh, mọc thành xim ở kẽ lá. Quả hạch. Vỏ ngoài nhẵn bóng, lúc non màu xanh khi chín màu hơi vàng. Thịt quả ăn được, vị chua chát hơi ngọt. Các nhà khoa học Việt Nam đã tạo nhiều chủng loại táo sai quả, quả to, vị ngon, ngọt trồng khắp nơi trong nước ta.



Bộ phận dùng


- Hạt hình con bọ rùa, một mặt khum, một mặt phẳng, một đầu nhọn; vỏ hạt màu nâu bóng, cứng khó bóc. Hạt dài 5-8 mm, rộng 4-6 mm, dày 2-3 mm. Cắt dọc sẽ thấy rõ nội nhũ trắng đục dính vào 2 lá mầm chứa nhiều dầu. Thu hoạch từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau. Để dễ lấy hạt người ta đem xay cho vỡ hạch và sàng lấy hạt rồi phơi hoặc sấy 50-600C thật khô.
- Lá thu hoạch sau mùa quả.


Thành phần hoá học

- Thành phần hạt táo Z.jujuba Mill. có các saponin: jujubosid A và jujubosid B, khi thủy phân thì trong thành phần của đường xác định có glucose, rhamnose, arabinose, xylose. Phần aglycon là jujubogenin một sapogenin thuộc nhóm dammaran. Hạt còn chứa các peptid alkaloid có tên là sanjonine (14 chất). Ngoài ra còn có acid betulinic, betulin là các triterpenoid thuộc nhóm lupan và một số thành phần khác như chất béo, vit.C.



Jujubogenin


Betulin R= CH2OH

Acid betulenic R= COOH

Vỏ thân của Z.jujuba Mill. có các alkaloid: mauritin A, mucronin D, amphibin H, numularin A,B, jubanin A,B.
- Từ Z.mauritiana Lam. , Tschesche (1974) đã phân lập và xác định được các alkaloid: mauritin C,D,F. Các alkaloid trên cũng là các peptid alkaloid đã được biết cấu trúc. Lá có chứa chất rutin.
- Hạt của Z.vulgaris var. spinosus ngoài saponin có các chất C-flavon glycosid: spinosin (0,15%), feruloylspinosin (0,10%), sinapoylspinosin (0,09%), p.coumaroylspinosin (0,03%) và swertisin.



R= H Swertisin
R = glc Spinosin
Tác dụng và công dụng
Dung dịch chiết bằng nước từ toan táo nhân của Trung quốc đã được thí nghiệm trên chuột thấy có tác dụng an thần, tác dụng này giống như thuốc ngũ barbituric. Hoạt chất được biết có tác dụng an thần là saponin và các flavon C-glycosid đặc biệt là spinosin.
Trong y học cổ truyền, toan táo nhân được dùng làm thuốc an thần dùng trong các trường hợp mất ngủ, hồi hộp, suy nhược thần kinh. Liều 0,8-1,8 g. Nếu sao đen có thể dùng đến 6 g.
Theo kinh nghiệm nhân dân, lá táo sắc uống dùng để chữa dị ứng, hen; liều 20-40 g. Có thể chế thành sirô.



www.duoclieu.org


TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

TAM THẤT-Panax notoginseng

TAM THẤT
Radix Notoginseng

    Rễ củ phơi khô của cây tam thất - Panax notoginseng (Burk.) F.H. Chen, họ Nhân sâm - Araliaceae.

Đặc điểm thực vật, nguồn gốc, trồng trọt.
    Cây thảo sống nhiều năm, cao khoảng  0,5m. Thân đơn, lá kép hình chân vịt, cuống lá dài, mỗi lá thường có 3-5 lá chét, mép lá  có khiá răng cưa nhỏ, trên gân chính rải rác có gân cứng thành gai. Cụm hoa tán đơn, hoa màu xanh nhạt. Quả khi chín màu đỏ. Hạt hình cầu.
    Tam thất là cây thuốc đã được trồng từ lâu đời ở Trung quốc, chủ yếu  ở tỉnh Vân Nam. Cây tam thất   được trồng ở một số tỉnh giáp giới Vân Nam của nước ta như Lào cai (huyện Mường khương, Bát sát) , Cao Bằng (Thông nông), Hà giang (Đồng văn) có thể cũng xuất xứ từ Vân nam.
    Muốn trồng đất phải được bón phân và chuẩn bị kỹ  từ một năm trước, chọn đất thoát nước, chia thành luống. Cần phải làm giàn che nắng để giữ độ  ẩm cần thiết. Vào  khoảng tháng 11-12 thu hạt ở những cây đã mọc 3-4 năm, xát bỏ lớp thịt quả, rửa sạch, để ráo, thêm ít tro và gieo ngay vào vườn  ươm. Tháng 3-4 năm sau cây mới mọc. Khi cây  được một tuổi thì  bứng cây con, cắt bỏ lá gốc trồng  vào vườn chính. Sau 4-5 năm có khi đến 7 năm mới  thu hoạch. Cây càng lâu năm thì rễ củ càng to. Cây rất dễ  bị sâu bệnh nhất là cây non vào tháng 3-5, cần phun thuốc để phòng trừ sâu bệnh; có  thể phun dung dịch  Bordeaux xen kẽ với hỗn hợp lưu huỳnh, vôi (bột lưu huỳnh 500g, bột vôi 500g, nước 120 lít).


Đặc điểm dược liệu:
Hiện nay người ta biết khoảng 14 loài Panax trồng và mọc hoang. Ở nước ta có phát hiện một số loài thuộc chi Panax mọc hoang ở Sapa, Kontum và Quảng nam. Loài ở Kontum và Quảng nam (địa phận núi Ngọc Linh) đã được các nhà khoa học Việt nam và Liên xô cũ xác định là một loài Panax mới đặt tên là Panax Vietnamensis Ha et Grushv. Loài này đặc biệt có thân rễ nhiều đốt mang sẹo của những gốc thân mọc hàng năm lụi đi. Chiều dài và đường kính thân rễ thay đổi tùy theo độ tuổi của cây, thường daì 25 cm, đường kính 1-3,5 cm với cây khoảng 20 năm tuổi. Thân rễ cũng có mang nhiều rễ phụ. Tận cùng của thân rễ có một rễ củ nhỏ mang nhiều rễ con.

Dược liệu sau khi chế biến có hình dạng thay đổi, thường hình con quay hay hình củ cà rốt dài 2-6cm, đường kính 1-4cm. Mặt ngoài màu nâu xám hoặc vàng xám, có những nếp nhăn dọc gián đoạn và vết sẹo còn lại của rễ nhánh. Phần trên xung quanh vết sẹo của thân có những u nhỏ lồi ra. Thể chất cứng chắc, vị thoạt đầu hơi đắng sau hơi ngọt.



Chế biến
Vào mùa thu, trước khi cây ra hoa, đào về rửa sạch, cắt rễ nhánh và thân rễ để riêng rồi phơi sấy cho đến khô (độ ẩm khoảng 12%) rồi phân loại. Hiện nay trên thị trường có nhiều loại, củ to nặng khoảng 10-12g, khi chặt ngang củ có màu vàng nâu là loại tốt. Khi dùng đem hấp cho mềm rồi thái miếng. Có khi dược liệu được xay thành bột để uống.

Thành phần hoá học
Thành phần hoá học chính của tam thất là các saponin thuộc nhóm dammaran mà phần aglycon cũng là 2 chất 20(S) protopanaxadiol và 20(S) protopanaxatriol như ở nhân sâm. Sau đây là các saponin có trong rễ củ:


a. Các saponin có phần aglycon là 20(S) protopanaxadiol:
G-Rb1, G-Rb2, G-Rd, Gy-XVII, N-R4, N-Fa.
b. Các Saponin có phần aglycon là 20(S) protopanaxatriol:
G-Re, G-Rg1, G-Rg2, G-Rh1, 20Glc-G-Rf, N-R1, N-R2, N-R3, N-R6.
Đặc điểm về mặt thực vật được phân biệt với các loại Panax khác ở chỗ loài này phần lớn là bầu 1 ô, một vòi nhụy, thỉnh thoảng cũng có trường hợp 2 ô nhưng không có 3 ô hoặc hơn. Trái hình thận và phần lớn chỉ chứa một hạt trong lúc các loài khác thường có hai hạt hoặc hơn.Về mặt hóa học, theo Nguyễn Minh Đức (Bộ môn Dược liệu Đại học Y dược TP.HCM) trong luận án tiến sĩ bảo vệ tại Nhật 1994 cho thấy trong thân rễ có 23 saponin đã được biết, b - sitosteryl -3-0-b -glucopyranosid và 14 saponin mới thuộc nhóm dammaran do tác giả phân lập, xác định cấu trúc đặt tên Vina ginsenosid R1-R14.
Trong số các saponin trên, G-Rb1 có hàm lượng 1,8% và G-Rg1 1,9% còn G-Rb2 và G-Rc thì rất thấp.
(Chú thích: G= Gingsenosid, Gy: gypenosid, N= notoginsenosid)
Các bộ phận khác của cây như rễ con, lá hoa đều có saponin nhóm dammaran đã được nghiên cứu.

Kiểm nghiệm
Vi phẫu: Lớp bần gồm 4-5 hàng tế bào. Trong mô mềm vỏ có các ống tiết. Tế bào mô mềm có chứa tinh bột và tinh thể calci oxalat hình cầu gai. Tượng tầng. Bó liber gỗ phân cách bởi tia ruột.
Bột: Màu trắng ngà nếu vàng xám là loại tốt. Nhiều hạt tinh bột hình cầu gai hay hình đa giác, đường kính 3-20m m, đôi khi có hạt kép 2-3 hoặc hơn. Mạch gỗ phần lớn là mạch mạng đường kính 16-40m m. Mảnh mô mềm có ống tiết trong có chất màu vàng. Tế bào bần hình chữ nhật, thành mỏng màu nâu. Tinh thể Ca oxalat hình cầu gai.

Định tính
- Đun 1g bột tam thất với 5ml methanol - nước (8:2) trong 10 phút rồi lọc. Lấy 1ml bốc hơi đến khô, thêm 1ml anhydrid acetic và vài giọt acid sulfuric sẽ thấy có màu vàng rồi chuyển sang đỏ, tím, xanh rồi lục xỉn.
- Nhỏ vài giọt dịch lọc nói ở trên lên tờ giấy thấm, làm khô, quan sát dưới ánh đèn tử ngoại (365 nm) sẽ thấy vết có huỳnh quang xanh nhạt. Nhỏ tiếp lên vết đó vào giọt dung dịch acid boric bão hòa trong aceton rồi tiếp vài giọt dung dịch acid citric 10%, làm khô rồi quan sát tiếp dưới ánh đèn tử ngoại, sẽ thấy vết huỳnh quang màu vàng lục.
SKLM:
Có thể tiến hành như nhân sâm.

Tác dụng và công dụng
Trong đông y, tam thất được coi là vị thuốc có tác dụng làm mất sự ứ huyết, tác dụng cầm máu, giảm viêm, giảm đau.
Dùng chữa trị các trường hợp: ho ra máu, nôn ra máu, chảy máu cam, đại tiện ra máu, tử cung xuất huyết, chấn thương.
Ngoài ra tam thất cũng được coi là một vị thuốc bổ như nhân sâm rất hay được dùng cho phụ nữ sau khi sinh nở.
Phụ nữ đang mang thai không nên dùng.
*
* *
Sau đây là một vài saponin có hàm lượng trội nhất: majonosid-R2 (5,29%), ginsenosid Rb1 (2%), ginsenosid Rg1 (1,37%)
Riêng có một saponin thuộc nhóm olean là hemslosid Ma3 đã được biết trong một cây thuộc họ Cucurbitaceae - Hemsleya macrosperma C.Y.Wu thì ở đây Nguyễn Minh Đức cũng lần đầu tiên xác định có trong một cây thuộc chi Panax.



Majonosid R2


Hemslosid Ma3
+ Có nơi trong nước ta còn lấy rễ của một số cây thuộc họ gừng: Stahlianthus thorelii Gagnep. để giả làm tam thất, cần chú ý đẩ tránh nhầm lẫn và giả mạo.

+ Ở Liên xô cũ có nghiên cứu một số cây thuộc các chi khác thuộc họ Nhân sâm và thấy thân rễ một số cây sau cũng có tác dụng bổ tương tự như nhân sâm: Aralia mandshurica Rupr. et Maxim; Echinopanax elatum Nakai; Eleutherococus senticosus Maxim. Cây Eleutherococus còn có tác dụng kích thích miễn dịch của cơ thể.
+ Cây Ngũ gia bì hương (hay Ngũ gia bì gai ) - Acanthopanax aculeatum Seem. Cây có gai, lá có 3-5 lá chét, có mọc ở Lào cai, Lạng sơn... cũng được khai thác để chế rượu bổ; bộ phận dùng là vỏ thân, vỏ rễ.
+ Một số cây thuốc khác mang tên sâm cần chú ý phân biệt:
- Đảng sâm - Codonopis tangshen Oliv., họ Hoa chuông - Campanulaceae. Dây leo, bộ phận dùng là rễ củ. Trong y học dân tộc cổ truyền, đảng sâm cũng được coi là vị thuốc bổ có mặt trong các bài thuốc như tứ quân, bát vị, thập toàn đại bổ... Đảng sâm mà ta đang khai thác trong nước là rễ củ của Codonopsis javanica (Blume) Hook.f.
- Đan sâm - Salvia miltiorrhiza Bunge.; họ Hoa môi - Lamiaceae; cây này ta đã di thực. Trong học dân tộc cổ truyền dùng làm thuốc bổ máu cho phụ nữ, chữa rong kinh, kinh nguyệt không đều.
Nghiên cứu cho thấy đan sâm có tác dụng chống đông máu ức chế yếu tố ổn định fibrin. Đan sâm được phới hợp với xuyên khung chế dưới dạng tiêm bắp thịt (2ml thuốc tiêm tương đương 4g mỗi thứ dược liệu) có tác dụng điều trị bệnh tổn thương động mạch vành. Thuốc có tác dụng tăng dung tích máu chảy qua động mạch vành, ngăn cản kết tụ tiểu cầu, phòng ngừa nghẽn mạch.
Acid salvianolic A, một depsid có trong đan sâm có tác dụng chống tiết dịch và chống loét dạ dày do ức chế H+, K+, ATPase.
- Huyền sâm - Scrophularia buergeriana Miq., họ Hoa mõm sói- Scrophulariaceae (xem phần dược liệu chứa monoterpenoid glycosid)
- Thổ cao ly sâm (hay thổ nhân sâm) - Talinum patens (Gaertn.) Willd; họ Rau sam - Portulacaceae: cây thảo mọc hoang và được trồng có lá dày mọng nước làm rau ăn được. Đây là vị thuốc bổ rẻ tiền, đừng nhầm với nhân sâm.
- Sa sâm - Glehnia littoralis F. Schmidt; họ Hoa tán - Apiaceae. Ta thay thế bằng cây sa sâm nam - Launea sarmentosa (Willd.) Sch. - Bip. ex. Kuntze (Launaea pinnatifida Cass.), họ Cúc - Asteraceae Mọc phổ biến trên bãi cát ngoài bờ biển. Công dụng: chữa ho, sốt.
- Khổ sâm cho lá - Croton tonkinensis Gagnep., họ Thầu dầu - Euphorbiaceae. Chữa lỵ, loét dạ dày tá tràng.
- Khổ sâm dùng quả (nha đam tử, sầu đâu cứt chuột) - Brucea javanica Merr., họ Thanh thất - Simarubaceae Chữa lỵ, sốt rét, ung thư.
- Khổ sâm cho rễ - Sophora flavescens Ait., họ Đậu - Fabaceae. Ta không có.
- Sâm đại hành (tỏi Lào) - Eletherin bulbosa (Mill.) Urb. (Eleutherine subaphylla Gagnep.), họ La dơn - Iridaceae. Bộ phận dùng là củ màu đỏ nom như củ hành. Nhân dân ta dùng làm thuốc bổ máu, ngoài ra còn có tác dụng sát khuẩn dùng chữa viêm họng hoặc bột rắc lên vết thương (xem chương Dược liệu có tác dụng kháng khuẩn).
- Sâm bố chính (xem chương Carbohydrat).



www.duoclieu.org

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Văn Thu (2011), Bài giảng dược liệu, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội
Phạm Thanh Kỳ (1998), Bài giảng dược liệu, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội
Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật.
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật