Showing posts with label Theaceae. Show all posts
Showing posts with label Theaceae. Show all posts

Saturday, 8 November 2014

HẬU BÌ HƯƠNG-Ternstroemia gymnanthera-Giang hoa trần

HẬU BÌ HƯƠNG


Tên khác: Giang hoa trần.
Tên khoa hoc: Ternstroemia gymnanthera (Wight & Arn.) Sprague; thuộc họ Chè (Theaceae).
Tên đồng nghĩa: Cleyera gymnanthera Wight & Arn.
Mô tả: Cây gỗ hay cây bụi cao tới 5-10cm; nhánh thô, không lông. Lá chụm ở ngọn nhánh; phiến xoan thon, dài 5-10cm, rộng 2,5-5cm, gốc từ từ hẹp trên cuống, cứng, không lông; gân phụ 5 cặp; cuống dài đến 1,5cm. Hoa đơn độc, rộng 1,8cm, cuống hoa 1-1,5cm, lá dài 5, cánh hoa 5, màu vàng, nhị nhiều, bầu 3 ô với vòi chẻ ba. Quả xoan, đường kính 1,2-1,5cm.
Bộ phận dùng: Quả, lá (Fructus et Folium Ternstroemiae Gymnantherae).
Phân bố sinh thái:Loài nguồn gốc Nhật Bản, Trung Quốc và Bắc Việt Nam. Ở nước ta, cây mọc ở rừng ở độ cao 700m trở lên thuộc các tỉnh Lai Châu, Sơn La.
Thành phần hóa học:Hạt chứa lipid.
Tính vị, tác dụng:Vị đắng, tính mát; hoa quả đều có độc; có tác dụng tiêu ung thũng.
Công dụng, cách dùng:Được dùng ở Trung Quốc trị mụn nhọt lở ngứa, viêm tuyến vú; dùng ngoài trị bệnh ngứa.

Thursday, 30 October 2014

GIANG NÚI-Ternstroemia japonica-cây thuốc chữa lỵ

GIANG NÚI


Tên khoa học: Ternstroemia japonica (Thunb.) Thunb.; thuộc họ Chè (Theaceae).
Mô tả: Cây gỗ có kích thước trung bình. Lá thuôn - ngọn giáo, nhọn nhiều hay ít ở hai đầu, dày, dai, dài 5-10cm, rộng 25-35mm, có gân hơi rõ; cuống lá dài 2cm. Hoa vàng nhạt, đơn độc ở nách hay ở ngọn, có cuống dài 10mm. Quả hình trứng hay gần hình cầu, mang phần thừa lại của vòi nhuỵ, có 2 ô; mỗi ô chứa 1-2 hạt lồi ở mặt ngoài, dẹp ở phía bụng, dài 8mm. Cây ra hoa tháng 6, quả tháng 8.
Bộ phận dùng: Vỏ và rễ (Cortex et Radix Ternstroemiae japonicae).
Phân bố sinh thái:Loài phân bố ở Ấn Độ, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Ðài Loan, Thái Lan, Srilanka và Việt Nam. Ở nước ta, cây mọc nhiều ở vùng núi từ Thừa Thiên-Huế qua các tỉnh Tây Nguyên đến Ðồng Nai, Kiên Giang (Ðảo Phú Quốc).
Tính vị, tác dụng:Lá có vị se, có tác dụng thu liễm.
Công dụng, cách dùng:Ở Nhật Bản người ta thường dùng trị lỵ. Lá được dùng trước đây, ở Trung Quốc làm thuốc nhuộm móng tay như Lá móng.

Monday, 10 October 2011

CÂY CHÈ

CÂY CHÈ
Folium Camelliae.


Tên khác: Trà, Trà diệp, Chè hương, Chè tàu.
Tên khoa học: Camellia sinensis O. Ktze = Thea chinensis Seem., họ Chè (Theaceae). Cây thường được trồng lấy lá tươi sắc nước uống hoặc chế biến theo những quy trình nhất định thành trà để pha nước uống.
Mô tả: Cây nhỡ thường xanh, cao 1-6m. Lá mọc so le, hình trái xoan, dài 4-10cm, rộng 2-2,5cm, nhọn gốc, nhọn tù có mũi ở đỉnh, phiến lá lúc non có lông mịn, khi già thì dày, bóng, mép khía răng cưa rất đều. Hoa to, với 5-6 cánh hoa màu trắng, mọc riêng lẻ ở nách lá, có mùi thơm; nhiều nhị. Quả nang thường có 3 van, chứa mỗi ở một hạt gần tròn, đôi khi nhăn nheo.
Bộ phận dùng: Cành, lá.
Phân bố: Gốc ở Bắc Ấn Độ và Nam Trung Quốc, được truyền sang Mianma, Thái Lan, Việt Nam. Chè được trồng khắp nơi ở nước ta, tập trung nhiều ở Vĩnh Phú, Hà Giang, Bắc Thái, Quảng Nam - Đà Nẵng cho tới Đắc Lắc, Lâm Đồng. Cây ưa khí hậu ẩm, đất chua và cần được che bóng ở một mức độ nhất độ nhất định để đảm bảo hương thơm.
Thu hái: Thường ta bẻ cả cành lá nấu nước uống gọi là chè xanh, hoặc hái búp và lá non sao, vò rồi sao để làm chè hương pha nước uống gọi là trà. Lại còn có cách để cho lên men mới phơi sấy khô làm chè mạn hay chế thành chè đen.
Hoa tháng 9-10; quả tháng 11-3.
Tác dụng dược lý: Chè đã được sử dụng hơn 2000 năm trước Công nguyên. Do có cafein và theophyllin, chè là một chất kích thích não, tim và hô hấp. Nó tăng cường sức làm việc trí óc và của cơ, làm tăng hô hấp, tăng cường và điều hoà nhịp đập của tim. Nó cũng lợi tiểu, làm dễ tiêu hoá. Sự có mặt của các dẫn xuất polyphenolic làm cho tác dụng của chè đỡ hại hơn hơn và kéo dài hơn là cafein. Các flavonol và polyphenol làm cho chè có tính chất của vitamin P. Tuy vậy, nếu sử dụng kéo dài với liều cao, chè có thể gây nhiễm độc mạn tính, biểu hiện bởi sự mất ngủ, sự gầy yếu, mất cảm giác ngon miệng, có rối loạn thần kinh.
Thành phần hoá học : Trong lá chè có tinh dầu, các dẫn xuất polyphenolic (flavonoid, catechol, tanin) các alcaloid cafein, theophyllin, theobromin, xanthin. Còn có các vitamin C, B1, B2, B3 và các men.
Công năng: Thanh nhiệt giải khát, tiêu cơm, lợi tiểu, định thần, làm cho đầu não được thư thái, da thịt mát mẻ, khỏi chóng mặt xây xẩm, bớt mụn nhọt, và cầm tả lỵ
Công dụng:  Thường được dùng trong các trường hợp: Tâm thần mệt mỏi, ngủ nhiều; đau đầu, mắt mờ; sốt khát nước; tiểu tiện không lợi; ngộ độc rượu. Dùng ngoài, nấu nước rửa vết bỏng hay lở loét thì chóng ra da và lên da non.
Cách dùng, liều lượng: Pha nước đặc để uống hoặc thụt.
Bài thuốc:
1. Chữa phù thũng, dùng Chè tươi 300g nấu nước uống, mỗi ngày 2-3 lít; uống luôn 3-4 ngày sẽ kiến hiệu.
2. Chữa ỉa chảy hay đi lỵ, dùng búp chè, búp ổi, mỗi thứ một nắm, sao vàng sắc uống, hoặc nhai một nắm trà hương khô mốc.
3. Chữa bị bỏng, nấu nước chè đặc giội vào vết bỏng và rửa sạch, rồi lấy lòng trắng trứng gà phết vào sẽ chóng lành.