Showing posts with label H. Show all posts
Showing posts with label H. Show all posts

Friday, 14 November 2014

HỒI NƯỚC-Limnophila rugosa

HỒI NƯỚC


Tên khác: Quế đất.
Tên khoa học: Limnophila rugosa (Roth) Merrill; thuộc họ Hoa mõm sói (Scrophulariaceae).
Tên đồng nghĩa: Herpestis rugosa Roth
Đặc điểm thực vật (Mô tả): Cây thảo hàng năm có thân mọc đứng cao 15-40cm, khoẻ, đơn hay phân nhánh ít, nhẵn hoặc có lông mịn. Lá mọc đối có cuống dài 5-25mm, phiến lá hình trứng tới thuôn hình trứng, dài 2-8cm, rộng 0,8-4,5cm, tù ở chóp, có góc men trên cuống, có mép hơi khía lượn, ráp ở trên, có lông dọc theo các gân chính ở mặt dưới, có nhiều điểm tuyến. Cụm hoa ở nách lá thành ngù 1-7 hoa, không cuống hay có cuống ngắn, ở nách của 2 lá bắc dạng lá; đài có lá đài giữa to; tràng hoa 13-15mm, màu lam nhạt, có họng vàng, hơi có lông ở phía ngoài, có lông mềm ở mặt trong. Quả nang hình trứng rộng, dẹp, 5-6 x 3mm.
Bộ phận dùng: Toàn cây (Herba Limnophilae Rugosae).
Phân bố sinh thái: Loài phân bố ở Ấn Độ, Nê pan, Mianma, Nam Trung quốc, Thái Lan, Lào, Việt Nam, bán đảo Malaixia, Indonesia, Philippin, Tân Ghinê và đến Polynêdi. Người ta thường gặp chúng trong các bãi cỏ dọc theo sông hồ, ruộng rạch, ở cao độ thấp tới 1500m, từ Hoà Bình, Quảng Ninh tới Vĩnh Long, Cần Thơ, An Giang cũng được trồng làm rau gia vị.
Thu hái: Cành lá quanh năm, thường dùng tươi.
Thành phần hóa học: Lá chứa tinh dầu (Anethol) có mùi như mùi Húng quế, Hồi.
Tính vị, tác dụng: Hồi nước có vị cay, tính bình; có tác dụng thanh nhiệt giải biểu, khư phong trừ thấp, làm ngừng ho và giảm đau.
Công dụng, cách dùng: Cây thường được dùng làm rau gia vị ăn với bánh xèo, dùng làm thơm thức ăn và gội đầu cho thơm tóc.
Ở Trung Quốc, cây được dùng trị cảm mạo, viêm đau hầu họng, phổi nóng sinh ho, viêm nhánh phế quản, đau dạ dày, dùng ngoài trị bệnh mụn.
Ở Indonesia, nước sắc cây được dùng trong điều trị bệnh lậu nhẹ và suy nhược.
Ở Philippin, nước hãm lá cũng thường được dùng.

HỒI NÚI-Illicium griffithii

HỒI NÚI


Tên khác: Đại hồi núi, Mu bu (Mèo).
Tên khoa học: Illicium griffithii J. D. Hooker & Thomson; thuộc họ Hồi (llliciaceae).
Tên đồng nghĩa: Ternstroemia khasyana Choisy.
Đặc điểm thực vật (Mô tả): Cây gỗ cao 8-15m, tán tròn. Lá hình bầu dục, nhẵn, dai, không rụng, nguyên, dài 8cm, rộng 3cm, xếp 4-5 cái thành vòng giả: cuống dài 8-10mm. Hoa ở nách lá, đơn độc, có cuống hoa phát triển sau khi hoa nở, dài hơn cuống lá, thơm mùi Hồi. Quả có 10-13 đại, xếp toả tròn, dẹp bên, có bầu cụt ở gốc, hình vuông hay chữ nhật, kéo dài thành mỏ hẹp và cũng dài bằng bầu, nhọn cong về phía trong như lưỡi liềm. Cây ra hoa tháng 3-4.
Bộ phận dùng: Rễ, quả (Radix et Fructus lllicii).
Phân bố sinh thái: Cây của vùng Viễn Đông, phân bố ở Đông Dương, Malaysia. Ở nước ta, cây Hồi mọc hoang rải rác trên núi đá vôi ở Lạng Sơn (huyện Chi Lăng), Hoà Bình (Đà Bắc), các tỉnh Tây Bắc và một số tỉnh phía Nam như Khánh Hoà (Vọng Phu), Lâm Đồng (Bảo Lộc, Lang Biang).
Thành phần hóa học: Quả Hồi núi cũng chứa tinh dầu giống tinh dầu cất từ hạt Tiểu hồi. Quả có chứa tinh dầu (1,5%), thành phần chính là safrol (77,5%).
- Lá có chứa tinh dầu (3%)
Tính vị, tác dụng: Quả hồi chứa chất độc. Mùi vị của dầu lúc đầu hầu như không có, sau có vị chát, thơm và có pha mùi của ớt và Hồ tiêu.
Công dụng, cách dùng: Hạt Hồi núi giã ra để duốc cá, không dùng uống được. Nếu dùng nhầm sẽ bị ngộ độc: có triệu chứng nôn mửa, rát họng, đau bụng, chân tay lạnh, chảy nước rãi. Rễ cũng được dân gian dùng thay quả Hồi.

HỒI ĐẦU-Tacca plantaginea

HỒI ĐẦU


Tên khác: Cỏ vùi đầu, Vùi sầu.
Tên khác: Tacca plantaginea (Hance) Drenth; thuộc họ Râu hùm (Taccaeae).
Đặc điểm thực vật (Mô tả): Cây thảo cao 15-25cm, thân rễ phình thành củ tròn hoặc hình trứng, mọc cong lên, không có thân. Lá mọc từ thân rễ, phiến lá nguyên, lượn sóng men theo cuống đến tận gốc, dài 10-20cm, rộng 2-5 (8)cm, xanh mượt, nhẵn bóng ở mặt trên, cuống lá dài 5-7cm. Cụm hoa hình tán gồm 6-10 hoa trên một cán mập dẹt cong dần xuống, dài tới 10cm, bao chung gồm 4 lá bắc màu tím; hoa màu tím, có cuống, bao hoa có 6 phiến, các phiến ngoài to và rộng hơn; nhị 6 đính trên các thuỳ phiến bao hoa; bầu dưới, 1 ô, hình nón ngược, có cánh ở gốc. Quả nang mở không đều ở đỉnh; hạt nhỏ, hình thoi, màu nâu. Mùa hoa tháng 9-12. 
Bộ phận dùng: Thân rễ (Rhizoma Taccae). Thân rễ cây thường ngóc đầu lên mọc thành cây nên ta gọi là Hồi đầu. Củ lúc đầu có ruột màu vàng nhạt mùi hăng như Nghệ, nhưng khi khô lại có màu be nhạt, hết hăng, mùi thơm như Tam thất.
Phân bố sinh thái: Loài cây của Á châu, phân bố ở Trung quốc, các nước Đông Dương, Malaixia và Inđônêxia. Ở nước ta, Hồi đầu mọc hoang ở các tỉnh vùng núi thấp miền Bắc Việt Nam, mọc nhiều ở chỗ ẩm mát, ven suối, trong rừng ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Thái. Có thể trồng bằng thân rễ như trồng Nghệ vào mùa xuân, mùa thu. Người ta thu hái thân rễ vào mùa hè, thu, cắt bỏ lá và rễ con, rửa sạch, phơi hoặc sấy khô. Khi dùng, ủ cho mềm rồi thái lát, tẩm gừng, sao vàng.
Thành phần hóa học: Trong rễ có saponin steroid. Khi thuỷ phân cho diosgenin với hàm lượng 1,12 - 1,14%.
Tính vị, tác dụng: Hồi đầu có vị đắng, hơi the, tính bình; có tác dụng bổ huyết thay cũ đổi mới, làm tan máu ứ, thông kinh bế và tiêu sưng viêm; điều hòa kinh nguyệt, giúp tiêu hoá, nhuận tràng, lợi mật.
Công dụng: Thường dùng chữa tiêu hoá kém, đau bụng, vàng da do viêm gan siêu vi trung, ỉa chảy, thần kinh suy nhược, huyết áp cao, đau dây thần kinh toạ, thấp khớp, trẻ em sốt bại liệt, phụ nữ kinh nguyệt không đều.
Cách dùng, liều dùng: Ngày dùng 2-4g rễ, dạng thuốc viên, thuốc bột, hoặc dùng ngày  6-12g dược liệu khô sắc nước uống.
Bài thuốc:
1. Chữa phụ nữ kinh ít, huyết xấu, hành kinh máu đỏ nhạt hay lởn vởn, thường đau bụng kinh, vòng kinh không đều: Hồi đầu tán bột uống mỗi ngày 10g, uống liền 10 ngày kể từ sau khi thấy kinh 2 tuần vài ba đợt thì kinh đều, máu tốt, người béo đỏ (Lương y Lê Trần Đức).
2. Chữa bị thương sưng tấy va mụm nhọt: Dùng củ Hồi đầu và cả cây, giã tươi chế thêm nước hay giấm, vắt lấy nước cốt uống, lấy bã đắp vào chỗ đau (Lương y Lê Trần Đức)
3. Chữa kinh bế đau bụng: dùng 20g bột Hồi đầu uống với 1 chén rượu. Hoặc dùng bột Hồi đầu ngâm rượu (100g ngâm với 300ml rượu 36-40 độ) uống mỗi lần 20ml, ngày uống 2 lần.
4. Chữa đau dạ dày, viêm tá tràng, ăn kém tiêu, đại tiện phân cứng, đau tức vùng thượng vị, mỏ ác, viêm gan mạn tính: Bột Hồi đầu 6-10g mỗi ngày. Kiêng dùng giấm và rượu.
5. Chữa huyết áp cao của phụ nữ: Hồi đầu 20g, Hương phụ tử chế 18g, nước 300ml, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày (Tài nguyên cây thuốc Việt Nam).

HÔI-Gomphostemma leptodon

HÔI


Tên khác: Sâu cối.
Tên khoa học: Gomphostemma leptodon Dunn; thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae).
Đặc điểm thực vật (Mô tả): Cây nhỏ cao 1-1,5m, thân đứng, ít phân nhánh, dày, có khía dọc, 4 góc tù, phủ lông nhỏ dày đặc, hình sao. Lá mọc đối, hình trứng rộng, mép khía răng nhỏ, mặt dưới có lông. Hoa mọc thành xim ở nách lá, nhiều hơn, dày đặc, không cuống; lá bắc nhỏ; đài hình chuông, 5 răng; tràng màu trắng, mặt ngoài có lông, phiến 2 môi, môi trên tròn, môi dưới 3 thuỳ; nhị không thò ra ngoài; bầu nhẵn, vòi nhẵn. Quả bế nhỏ, nhẵn. Cây ra hoa tháng 12.
Bộ phận dùng: Lá, rễ (Folium et Radix Gomphostemmae).
Phân bố sinh thái: Thường gặp ở rừng phục hồi, ở rìa rừng núi đất ở Lạng Sơn, Bắc Thái, Hoà Bình, Ninh Bình.
Công dụng, cách dùng: Cây chỉ mới được dùng theo kinh nghiệm dân gian. Lá và thân giã ra rưới với nước gạo cho ngấm, rồi nướng nóng đắp bên ngoài da chữa sâu quảng, sâu cối. Lá cũng dùng nấu nước rửa chữa lở, ghẻ, mụn nhọt. Rễ được dùng sắc uống chữa đau đầu kinh niên.

HÒE LÔNG-Sophora tomentosa

HÒE LÔNG


Tên khác: Cây chuỗi hột.
Tên khoa học: Sophora tomentosa Linnaeus; thuộc họ Đậu (Fabaceae).
Đặc điểm thực vật (Mô tả): Cây nhỏ cao 2-4m, có thân thẳng, màu trăng trắng. Lá kép lông chim lẻ, có 11-15 đôi lá chét, mặt trên màu nhạt bóng, mặt dưới có lông tơ mềm và trắng. Hoa màu vàng xám, xếp thành chùm dày, dài 10-20cm ở ngọn, dựng đứng và dày đặc. Quả hình tràng hạt, có lông mềm; hạt hình cầu, màu vàng, dài 7mm. Cây ra hoa tháng 12-1, quả tháng 3-4
Bộ phận dùng: Hạt và rễ. Lá cũng có thể dùng được (Semen, Radix et Folium Sophorae Tomentosae).
Phân bố sinh thái: Cây phân bố rộng rãi ở các vùng ven bờ biển của Việt Nam, Campuchia, Ấn Độ, Philippin. Ở nước ta, Hòe lông phân bố trên các bãi cát ở các đảo từ Quảng Ninh đến tận Vũng Tàu - Côn Đảo (Côn Đảo) và Kiên Giang (Phú Quốc).
Thành phần hóa học: Rễ và hạt chứa alkaloid lỏng bay hơi, sophorine tương đồng với cytisin; các alkaloid khác là matrin, methylcytisin, cytisin và một base chưa xác định.
Tính vị, tác dụng: Hạt có vị rất đắng; vỏ rễ cũng đắng, có tác dụng làm se. Ở Ấn Độ, rễ và hạt được xem là đặc hiệu trong các bệnh về mật.
Công dụng, cách dùng: Hạt và rễ dùng trị ỉa chảy và thổ tả. Ở Malaysia, người ta dùng trị ỉa chảy vì bị ngộ độc gây ra do ăn phải cá độc.

Liều dùng: Ngày 3 hạt trong các trường hợp thông thường, và 7 hạt khi bị thổ tả, giã ra ngâm trong nước để uống. Với liều này sẽ ngưng nôn mửa.

HÒE BẮC BỘ-Sophora tonkinensis

HÒE BẮC BỘ


Tên khác: Sơn đậu.
Tên khoa học: Sophora tonkinensis Gagnepain; thuộc họ Đậu (Fabaceae).
Tên đồng nghĩa: Sophora supbprostrata Chun et T. Chen
Đặc điểm thực vật (Mô tả): Cây bụi, cao 1-2m, có thân hình trụ, có lông mềm. Lá mọc so le có trục dài 10-15cm; lá chét 1-15, mọc đối, dày, dài, thuôn hay bầu dục, dài 3-4cm, rộng 1-2cm, tròn ở gốc, tù ở chóp, nhẵn, óng ánh ở mặt trên, có lông ở mặt dưới, gân bên 7-8 cặp, cuống lá dài 8-12cm. Cụm hoa ở nách lá thành chùm hay chuỳ, dài 8 - 13cm, có lông mềm; cuống hoa mảnh; lá bắc dễ rụng; đài hình chuông có lông ở ngoài; tràng hoa màu vàng dài 10-12mm; cánh hoa có móng ngắn; nhị hơi dính nhau ở gốc, bầu có lông, 4 ô. Quả có lông, dài 3,5-4cm rộng 0,8cm, tự mở. Hạt 1-3, dạng trứng màu đen, bóng.
Bộ phận dùng: Rễ (Radix Sophorae Tonkinensis) thường có tên là Quảng đậu căn cũng có tên là Sơn dậu căn.
Phân bố sinh thái: Loài nguồn gốc từ Trung Quốc và Bắc Việt Nam. Thường mọc trong các núi đá voi và trên sườn dốc các đồi. Ở nước ta, cây phân bố từ Quảng Ninh, Ninh Bình tới Quảng Nam - Đà Nẵng.
Thành phần hóa học: Trong rễ cây có matrin, oxymatrin, N-methylcytisin, anagyrin, sophoranon, sophoranochromen, sophoradin, ptereocarpin, maackiain.
Tính vị, tác dụng: Hoè Bắc bộ có vị đắng, tính lạnh; có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu thũng chỉ thống.
Công dụng, cách dùng: Dùng chữa sưng họng, sưng mộng răng. Ở Trung Quốc, có nơi, người ta dùng rễ cây này chữa ung thư, cho rằng nó có khả năng ức chế sự phân liệt của tế bào ung thư.
Liều dùng: Ngày 4-12g, sắc uống riêng hay phối hợp với các vị khác.
Bài thuốc: Chữa sưng họng và sưng chân răng do phế vị hoả bốc xông lên: Hoè Bắc bộ, Cương tàm (Tằm chết gió), Chi tử, đều 12g, Huyền sâm, Cát cánh, cam thảo dây, đều 8g, Bạc hà, Kinh giới, đều 6g, sắc uống.

Thursday, 13 November 2014

HÒE-Sophora japonica

HÒE


Tên khác: Hòe hoa, Hòe mễ, Lài luồng (Tày).
Tên khoa học: Sophora japonica Linnaeus; thuộc họ Đậu (Fabaceae).
Tên đông nghĩa: Anagyris chinensis Sprengel; Macrotropis foetida Can­dolle; Ormosia esquirolii H. Léveillé; Pongamia chinensis Can­dolle; Robinia mitis Loureiro (1790), not Linnaeus (1763); Sophora angustifoliolaQ. Q. Liu & H. Y. Ye ["angustifiola"]; S. japonica f. columnaris Schwerin; S. japonica f. hybrida Carrière; S. japonica f. oligophylla Franchet; S. japonica f. pendula Loudon; S. japonica var. praecox Schwerin; S. japonica var. pubescens (Tausch) Bosse; S. japonica f. variegata Nichols; S. japonica var. vestita Rehder; S. japonica var. violacea Carrière; S. maireiH. Léveillé (1915), not Pampanini (1910); S. pubescens Tausch; S. sinensisForrest; S. vaniotii H. Léveillé; Styphnolobium japonicum (Linnaeus) Schott.
Đặc điểm thực vật (Mô tả): Cây nhỡ cao 5-6m, thân cành nhẵn, màu lục nhạt, có những chấm trắng. Lá kép lông chim lẻ, mọc so le, gồm 11-17 lá chét mọc đối, hình bầu dục thuôn, dài 30-45mm, rộng 12-20mm, mặt dưới hơi có lông, hoa nhỏ, màu trắng hay vằn lục nhạt, mọc thành chùm ở đầu cành. Quả đậu thắt eo ở khoảng giữa các hạt thành một chuỗi lúc khô thì nhăn nheo, màu đen nâu, chia 2-5 đốt chứa 2-5 hạt hình bầu dục, hơi dẹt, màu đen bóng. Mùa hoa tháng 5-8, mùa quả tháng 9-10. 
Bộ phận dùng: Nụ hoa (Flos Sophorae lmmaturus), thường gọi là Hoè mễ: Hoa hoè (Flos Sophorae), hay Hoè hoa; và quả Hoè (Fructus Sophorae), hay Hoè giác.
Phân bố sinh thái:Hoè được trồng từ lâu đời làm cây cảnh và cây thuốc ở nước ta, ở Nhật Bản, Trung Quốc (Hải Nam) và một số nơi khác ở Đông Nam Á. Ở nước ta, Hoè được phát triển trồng nhiều ở Thái Bình, Hà Bắc, Nam Hà, Hải Phòng, Hải Hưng, Nghệ An và gần đây ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên.
Trồng trọt, thu hái, chế biến: Người ta trồng Hoè bằng hạt hoặc giâm cành vào mùa xuân. Sau 3-4 năm bắt đầu thu hoạch, cây càng sống lâu càng cho nhiều hoa. Hái hoa lúc còn nụ, phơi hay sấy khô; dùng sống hay sao hơi vàng để pha nước uống, hoặc cho vào nồi đất đun to lửa, sao cháy tồn tính (80%) để cầm máu. Quả hái vào tháng 9-11, rửa sạch, đồ mềm, phơi hay sấy khô; dùng sống hay có thể sao qua. Khi dùng giã giập.
Thành phần hóa học:Nụ hoa Hoè chứa rutin, có thể đạt tới 34%. Còn có bertulin, sophoradiol, sophorin A, sophorin B và sophorin C. Vỏ quả chứa 10,5% flavonoid toàn phần và một số dẫn xuất như genistein, sophoricosid, sophorabiosid, kaempferol, glucosid C, rutin 4,3%. Hạt Hoè chứa 1,75% flavonoid trong đó có rutin 0,5%, một số alcaloid, cytisin, N-methyl cytisin, sophocarmin, matrin. Ngoài ra còn có 8-24% chất béo và galactomanan.
Tính vị, tác dụng:Nụ hoa Hoè có vị đắng nhạt, mùi thơm, tính bình; quả Hoè có vị đắng, tính mát, đều có tác dụng hạ nhiệt, mát huyết, cầm máu, sáng mắt, bổ não. Ngày nay ta biết được các tác dụng làm giảm tính thẩm thấu của các mao quản, tác dụng kháng chiếu xạ, tác dụng hạ huyết áp. Hoa Hoè có tác dụng lương huyết, chỉ huyết.
Công dụng, cách dùng:Nụ hoa sao đem chữa xuất huyết, cháy máu cam, ho ra máu, băng huyết, trĩ cháy máu, xích bạch lỵ. Nụ hoa dùng uống chữa đau mắt, cao huyết áp, phòng ngừa đứt mạch máu não.
Liều dùng: Ngày dùng 8-10g, dạng thuốc hãm hoặc sắc, hoặc dùng 0,5-3g dạng bột hoặc viên. Quả sao tồn tính chữa đại tiện ra máu. Ngày dùng 6-12g dạng thuốc hãm hay sắc.
Bài thuốc:
1. Chữa các loại xuất huyết, đi lỵ ra máu, bệnh trĩ, đi ngoài ra máu: dùng hoa Hoè (sao qua) 10-15g, hoặc dùng quả Hoè 8-12g sắc uống hoặc dùng hoa hoè sao đen 20g, Địa du sao đen 10g, Diếp cá 12g, nước 300ml, sắc còn 200ml.
2. Chữa trĩ bị sưng đau: Quả Hoè phối hợp với Khổ sâm, lượng bằng nhau, nghiền thành bột hoà với nước bôi ngoài.
3. Chữa người có huyết áp cao, đầu choáng váng, ngón tay hơi tê, đầu óc căng thẳng, thần kinh suy nhược, mắt đau sợ chói, khó ngủ: Hoè hoa sao, hạt Muỗng sao, hai loại bằng nhau, tán bột, mỗi lần uống 5g, ngày dùng 10-20g; hoặc dùng riêng mỗi vị 10g hãm uống thay chè.
4. Chữa sốt xuất huyết khi sốt đã lui mà còn xuất huyết nhẹ, chảy máu dưới da, hay trẻ em thường đổ máu mũi, chảy máu chân răng; trằn trọc khó ngủ: Cũng dùng Hoè hoa sao và hạt Muồng sao, tán bột, ngày dùng 10-20g; hoặc sắc 10g quả Hoè uống.

HỒ ĐÀO-Óc chó- Juglans regia

HỒ ĐÀO


Tên khác: Óc chó.
Tên khoa học: Juglans regia Linnaeus; thuộc họ Hồ đào (Juglandaceae).
Tên đồng nghĩa: Juglans duclouxiana Dode; J. fallax Dode; J. kamaonia (C. de Candolle) Dode; J. orientis Dode; J. regiavar. sinensis C. de Candolle; J. sinensis (C. de Candolle) Dode.
Đặc điểm thực vật (Mô tả): Cây to, có thể cao tới 30m; vỏ nhẵn và màu tro. Lá dài tới 40cm, kép lông chim lẻ với 5-9 lá chét hình trái xoan nguyên, dài 6-15cm, rộng 3-6, có gân giữa lồi ở mặt dưới. Hoa đơn tính, màu lục nhạt; hoa đực xếp thành đuôi sóc thõng xuống; hoa cái xếp 2-5 cái ở cuối các nhánh. Quả hạch to có vỏ ngoài màu lục và nạc, dễ hoá đen khi chà xát, vỏ quả trong hay vỏ của hạch rất cứng, có 2 van bao lấy hạt với 2 lá mầm to, chia thuỳ và nhăn nheo như nếp của óc động vật. Cây ra hoa tháng 5, quả tháng 9-10. 
Bộ phận dùng: Hạt (Semen Juglandis), thường gọi là Hồ đào nhân. Có khi dùng cả lá.
Phân bố sinh thái:Cây có nguồn gốc ở Á, Tiểu Á và thuần hoá từ lâu ở các vùng ôn đới ở Âu châu. Ở nước ta cũng có trồng ở Lao Cai (Sapa), Hà Giang (Phó Bảng, Đồng Văn) và Cao Bằng.
Thu hái: Có thể thu hái lá quanh năm, còn quả thu hái vào tháng 9-10, đập vỏ hạch lấy nhân.
Thành phần hóa học:Trong nhân có nước 17,59%, protid 11,05%, lipid 41,98%, chất dẫn xuất 26,50%, cellulose 1,30%, tro 1,60%. Nhân hạt chứa dầu mau khô gồm phần lớn là các glycerid của acid linoleic và linolenic. Hạch rất giàu hydroxy-5-tryptamin. Nó cũng giàu đồng và kẽm; còn có K, Mg,  S, Fe, Ca và các vitaminA, B, C, P. Dầu hạt óc chó có mùi đặc biệt dễ chịu nhưng dễ bị hôi.
Tính vị, tác dụng:Nhân hạt óc chó có vị ngọt, tính ấm; có tác dụng làm mạnh sức, béo người, đen tóc, trơn da. Ở Trung Quốc, nó được xem như có tác dụng ôn bổ phế thận, định suyễn nhuận tràng. Người ta cho là nhân hạt rất bổ dưỡng vì có nhiều protid, có thể chống tràng nhạc, nhuận tràng, trị ỉa chảy, trị giun, dẫn lưu hệ da và bạch huyết.
Công dụng, cách dùng:Thường dùng chữa tiết tinh, ho lâu, gối lưng đau mỏi, ngày dùng 4-12g, phối hợp với các vị thuốc khác.
Ở Âu châu, hạt dùng trị đái đường, ỉa chảy, tràng nhạc, bệnh ngoài da, lao phổi, đái dầm, ký sinh đường ruột. Lá tươi dùng làm thuốc đặc hiệu chữa bệnh thuộc tạng lao, tràng nhạc, các bệnh về da như chốc lở, ghẻ ngứa, phát ban da (dùng dưới dạng nước sắc uống hay nấu nước tắm). Nó cũng có tính giảm áp lực và giảm glucose - huyết nhẹ.
Ở Trung quốc, hạt Hồ đào dùng chữa thận hư đau lưng, hư hàn ho suyễn, đại tiện khó khăn, đau chân tay.
Bài thuốc:
1. Chữa thận lạnh, đau buốt ngang lưng, rũ mỏi, liệt dương, đái són, đái luôn vãi đái, tiết tinh:Hạt óc chó 12g, Ba kích 10g, Nhân quả Ré (Ích trí nhân), Ô dược, Cẩu tích đều 8g, sắc uống.
2. Chữa người già hen suyễn và người đái ra cát sỏi: Giã hạt óc chó nấu cháo thường ăn.

3. Chữa bị thương đau nhức: Dùng hạt óc chó giã nhỏ hoà với rượu uống, và giã lá tươi hay vỏ quả đắp rịt ngoài.

HỒ CHI-Lespedeza juncea

HỒ CHI


Tên khác: Lẳng le.
Tên khoa học: Lespedeza juncea var. sericea (Thunb.) Lace & Hauech; thuộc họ Đậu (Fabaceae).
Tên đồng nghĩa: Aspalathus cuneata (Dum. Cours.) D. Don; Hedysarum sericeum Thunb.; Lespedeza cuneata (Dum.Cours.) G.Don; Lespedeza sericea Benth.
Đặc điểm thực vật (Mô tả): Cây bụi mọc đứng cao 30-100cm, cành dài và mảnh, hơi có góc. Lá kép do 3 lá chét, dạng chót buồm, dài 10-30cm, rộng 2-5cm, cụt đầu và có mũi lồi ngắn ở đỉnh, thu hẹp lại tới gốc, mặt trên nhẵn, mặt dưới có lông mềm màu tro; lá kèm hình mũi dùi. Hoa 1-2 (-6) cái ở nách lá, lá đài có 1 gân to, 2-3 gân nhỏ; cánh hoa màu hồng. Quả hình thấu kính, có vân nhăn nheo, khi già thì nhẵn, chứa 1 hạt. Cây ra hoa từ tháng 4-12
Bộ phận dùng: Rễ và toàn cây (Radix et Herba Lespedezae Junceae).
Phân bố sinh thái:Cây mọc trong các savan cỏ, các bãi cỏ, đất trống từ Lạng Sơn, Hà Bắc, Hoà Bình, Hà Nội, Ninh Bình tới tận Komtum.
Thu hái: Rễ và cây vào mùa hè, thu, rửa sạch, thái nhỏ, dùng tươi hay phơi khô dùng dần.
Tính vị, tác dụng:Vị ngọt và đắng, tính bình, có tác dụng ích can minh mục, hoạt huyết thanh nhiệt, lợi niệu giải độc, tiêu viêm lợi tiểu, kích thích tiêu hoá, giảm ho, làm long đờm.
Công dụng: Thường được dùng chữa: 1. Trẻ em ăn uống kém và suy dinh dưỡng, viêm miệng; 2. Viêm dạ dày ruột, lỵ trực trùng; 3. Viêm phế quản mạn tính; 4. Viên gan hoàng đản; 5. Viêm thận phù thũng, bạch đới.
Liều dùng, cách dùng: Ngày 15-20g, dạng thuốc sắc. Dùng ngoài trị nhọt đầu đinh, bệnh nổi đơn, bệnh mụn rộp, cụm nhọt, rắn cắn; giã cây tươi đắp ngoài. Nhân dân ta cũng thường dùng cây chữa quáng gà, sốt rét, cam trẻ em (Cao Bằng); cũng dùng cây chữa bướu cổ (Lai Châu). Còn được sử dụng làm cây phân xanh và thức ăn gia súc.

HỔ BÌ-Linociera ramiflora

HỔ BÌ


Tên khoa học: Linociera ramiflora (Roxb.) Wall. ex G. Don; thuộc họ Nhài (Oleaceae).
Đặc điểm thực vật(Mô tả): Cây gỗ cao tới 15m; cành có 4 cạnh ở mắt. Lá có phiến bầu dục, dài (6,5-) 10-15 (-30) cm, dài, mặt nhẵn mịn lúc khô; gân phụ 10-12 cặp; cuống 1-1,5cm. Chuỳ hoa ở nách lá, dài 2,5-10cm; hoa trắng vàng; đài cao 1,5mm, tràng cao 2,5-3mm; cánh hoa thon dài, nhị 2. Quả hạch to bằng ngón tay út, hột 1. Cây ra hoa tháng 2-8, quả tháng 3-9.
Bộ phận dùng: vỏ, lá (Cortex et Folium Linocierae).
Phân bố sinh thái:Cây của Á châu nhiệt đới và Úc châu. Ở nước ta, chỉ gặp ở rừng rậm các tỉnh phía nam từ Quảng Trị tới Lâm Đồng, Đồng Nai và Kiên Giang (đảo Phú Quốc).
Thành phần hóa học:vỏ cây chứa tanin.
Tính vị, tác dụng:Vỏ có vị đắng, chát.
Công dụng, cách dùng:
Ở Campuchia, lá được dùng ăn với Cau, thay thế cho Trầu không.
Ở Trung quốc, vỏ được dùng thuộc da.
Ở Ấn Độ, vỏ đắng dùng trị sốt rét gián cách.

Wednesday, 12 November 2014

HOA TÝ NGỌ-Pentapetes phoenicea

HOA TÝ NGỌ


Tên khác: Ngũ phướng.
Tên khoa học: Pentapetes phoenicea Linnaeus; thuộc họ Trôm (Sterculiaceae).
Đặc điểm thực vật (Mô tả): Cây thảo gần như nhẵn, cao 40-150cm. Lá hình dải, thuôn, có răng nhiều trên các mép, hình góc ở gốc, thon hẹp đều đều tới chóp, dài 7cm, rộng 1cm. Hoa đỏ tím, ở nách lá, đơn độc, rộng 30-35mm. Quả nang, mỏng, hình cầu, bao bởi đài hoa hơi có lông, có 5 ô. Hạt 8-12 trong mỗi ô, hình cầu, đường kính 3mm, hơi có hình nhiều góc, có chấm nâu. Cây ra hoa cuối mùa hè đến tận tháng 10-11, có quả tháng 1.
Bộ phận dùng:Toàn cây (Herba Pentapetis Phoeniceae).
Phân bố sinh thái:Cây phân bố ở Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Inđônêxia, các nước Đông dương. Ở nước ta, cây mọc ở ruộng vùng đồng bằng; ở miền Nam vào mùa nước, gặp nhiều ở tỉnh Đồng Tháp. Cũng thường được trồng làm cảnh vì hoa đẹp. Nhân giống bằng hạt hoặc giâm cành.
Thu hái: Thu hái cành lá quanh năm, thái ngắn, phơi khô.
Tính vị, tác dụng:Quả và lá có chất nhầy. Cây có tính làm dịu, làm mềm.
Công dụng, cách dùng:Thường dùng chữa cảm mạo. Mỗi khi thay đổi thời tiết, sức khoẻ không bình thường, người ta dùng lá và thân cây phơi khô nấu nước uống thay trà. Ở Ấn Độ, người ta dùng cây làm thuốc trị rắn cắn.

HOA TÍM KHIÊM-Viola verecunda

HOA TÍM KHIÊM


Tên khác: Rau cẩn.
Tên khoa học: Viola verecunda A. Gray; thuộc họ Hoa tím (Violaceae).
Tên đồng nghĩa: Viola arcuata Blume
Đặc điểm thực vật (Mô tả): Cây thảo, không lông, có thân rễ bò dưới đất. Thân đứng mang hình thận hay hình tim, mép có răng, cuống dài gần bằng phiến; lá kèm nhọn dài. Cuống cụm hoa dài lá, có tiền diệp nhỏ; hoa to 4-8mm, trắng hay lam nhạt 10-12mm. Quả nang nhọn; mảnh 3.
Bộ phận dùng:Toàn cây (Herba Violae Verecundae)
Phân bố sinh thái:Loài phân bố ở Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam. Ở Việt Nam, cây mọc ở chỗ trũng, vùng tỉnh Lâm Đồng.
Tính vị, tác dụng:Vị hơi đắng, tính lạnh; có tác dụng nung bạt độc, tiêu ứ tiêu thũng.
Công dụng, cách dùng:Được dùng chữa dịch hạch, tràng nhạc, cắn, ghẻ lở, viêm kết mạc. Cũng dùng cho người ốm lao lực nhiều.

HOA TÍM-Viola odorata

HOA TÍM


Tên khác: Hoa tím thơm.
Tên khoa học: Viola odorata Linnaeus.; thuộc họ Hoa tím (Violaceae).
Đặc điểm thực vật (Mô tả): Cây sống dai, có một thân rễ phân nhánh và mọc bò, tạo ra những chồi ở dưới đất. Các lá xuất hiện đồng thời với hoa, có kích thước nhỏ (2-4cm) có dạng tim hay hình trái xoan rộng; mép có răng; các lá mọc chậm hơn có kích thước lớn hơn. Hoa màu tím sẫm, thơm, thường là không sinh sản. Từ các chồi của cùng một năm, sẽ xuất hiện ra những hoa có ống ngắn, không rõ lắm, có cánh hầu như không màu là những hoa sinh sản và cho hạt. Cây ra hoa tháng 3-4 và tháng 8.
Bộ phận dùng:Hoa và toàn cây (Flos et Herba Violae Odoratae).
Phân bố sinh thái:Cây nguồn gốc châu Âu, Trung Á, Bắc Phi được nhập trồng ở Hà Nội, Đà Lạt, và thành phố Hồ Chí Minh vì hoa đẹp và thơm.
Thu hái, chế biến:Hoa vào tháng 3-4 và toàn cây thường là vào mùa xuân, lúc cây có hoa. Phơi trong bóng râm.
Thành phần hóa học:Có violin (gần với emetin), acid salycilic, một chất dầu, một chất màu hoá đỏ khi tác dụng với acid và hoá xanh khi tác dụng với chất kiềm. Tinh dầu của lá giàu nonadienol. Rễ cây chứa những saponosid và một alkaloid, odoratin, là một triacetonamin có tính chất giảm áp.
Tính vị, tác dụng:Hoa làm dịu, làm long đờm và làm ra mồ hôi. Rễ làm long đờm, làm nôn (với liều cao). Lá lợi tiểu, tiêu độc.
Công dụng: Được chỉ định dùng trị: 1. Viêm phế quản, ứ đọng ở phế quản; 2. Ho; 3. Viêm đường tiêu hoá, đường tiết niệu; 4. Sốt phát ban; 5. Loét dạ dày và hành tá tràng; 6. Viêm họng; 7. Nứt nẻ vú (dùng ngoài).
Cách dùng, liều dùng:Thường dùng hoa đun sôi trong nước và hãm uống ngày 2-4 chén. Có thể dùng xirô hoa (100g hoa trong 500g đường, 300g nước) ngày dùng 30-50g. Hoặc dùng nước sắc cây làm thuốc long đờm (1 thìa cà phê mỗi chén). Muốn gây nôn, dùng 3-4 thìa cà phê mỗi chén hoặc dùng bột rễ 1-5g. Dịch lá dùng tẩy. Dùng ngoài lấy lá nấu nước làm thuốc đắp hoặc lá cây tươi giã nát đắp.

HOA TIÊN TO-Asarum maximum

HOA TIÊN TO


Tên khác: Trầu tiên.
Tên khoa học: Asarum maximum Hemsley; thuộc họ Nam mộc hương (Aristolochiaceae).
Đặc điểm thực vật (Mô tả): Cây thảo sống lâu năm, cao 20-30cm. Thân rễ mảnh, nằm ngang dưới đất, chia nhiều đốt. ở mỗi đốt thường sinh 2 lá. Lá lớn, mép nguyên, hình tim dài, đầu nhọn, nhẵn, dài 16-20cm, rộng 8-10cm; cuống lá dài 14-20-cm. Hoa lớn, hình ống, đường kính tới 6cm, màu xám nâu, mọc riêng lẻ ở nách lá; cuống hoa dài 2-3cm; lá bắc dài và hẹp; tràng hoa chia 3 thuỳ hình tim, nhị 12; nhuỵ trên một cột dày. Quả bao bọc trong bao hoa tồn tại, nhiều hạt nhỏ, màu nâu đen. Mùa hoa quả tháng 4-6. 
Bộ phận dùng:Toàn cây (Herba Asari Maximi), thường gọi là (Đại hoa Tế tân).
Phân bố sinh thái:Cây mọc hoang ở đất ẩm, bờ khe, suối vùng núi cao Lào Cai, Hoà Bình, Vĩnh Phú, Quảng Ninh.
 Thu hái: Toàn cây quanh năm, tốt nhất vào mùa xuân, mùa hè, rửa sạch, phơi khô.
Thành phần hóa học:Có tinh dầu, Hoa chứa anthocyanosid.
Tính vị, tác dụng:Vị cay, tính ấm; có tác dụng tán hàn chỉ khái, khu đàm trừ phong.
Công dụng, cách dùng:Thường dùng trị: 1. Phong hàn cảm mạo; 2. Đau đầu; 3. Ho; 4. Phong thấp đau nhức; 5. Nhức mỏi tay chân; 6. Đòn ngã bị thương. Người ta cũng dùng dây hoa và rễ để bồi bổ, tăng cường thể lực.
Liều dùng: Ngày dùng 6-12g, dạng thuốc sắc hoặc rượu thuốc. Lá dùng chữa ăn uống không tiêu, đau bụng,

HOA TIÊN-Asarum glabrum

HOA TIÊN


Tên khác: Trầu tiên.
Tên khoa học: Asarum glabrum Merr.; thuộc họ Nam mộc hương (Aristolochiaceae).
Đặc điểm thực vật:Cây thảo sống nhiều năm, không lông, thân nằm rồi đứng, to 5-6mm. Lá 2-3, to; phiến hình tim tam giác, dài đến 25cm, chót có mũi, như da, không lông; gân ở gốc 5; cuống dài hơn phiến. Hoa đều, tím; dài dài xoan, đầu tròn, 7 gân; ống thắt lại ở 1/3 trên. Nang cao 3,5mm, hạt nhiều. Mô tả
Bộ phận dùng:Lá, rễ  (Folium et Radix Asari Glabri).
Bộ phận dùng:Cây của vùng núi cao Hoàng Liên Sơn, Vĩnh Phú, Hoà Bình, Hà Nội.
Thu hái: Rễ, lá và hoa có thể thu hái quanh năm, phơi hay sấy khô.
Tính vị, tác dụng:Cũng như các loài khác cùng chi Asarum.
Công dụng, cách dùng:Người ta dùng rễ và lá làm thuốc bổ, tăng cường thể lực. Lá còn được dùng chữa ăn uống khó tiêu, đau bụng.
Liều dùng:6-12g, dạng thuốc sắc, hoặc ngâm rượu uống. chỉ định và phối hợp

Tuesday, 11 November 2014

HOA THẢO-Dendrobium gratiosissimum

HOA THẢO


Tên khác: Ý thảo.
Tên khoa học: Dendrobium gratiosissimum Rchb.f.; thuộc họ Lan (Orchidaceae).
Tên đồng nghĩa: Callista boxallii (H. G. Reichenbach) Kuntze; C. gratiosissima (H. G. Reichenbach) Kuntze; Dendrobium boxalliiH. G. Reichenbach; D. bullerianumBateman.
Đặc điểm thực vật:Phong lan biểu sinh, có thân mảnh, thõng, dài 30-90cm, không có hành giả, hơi dày ở phía trên. Lá xoan - ngọn giáo, dài 7-10cm, rộng 10-13mm, nhọn, lõm ở đầu. Cụm hoa chùm ngắn ở phía trên, có 2-3 hoa trắng với một đốm vàng trên cánh môi, rất thơm. 
Bộ phận dùng:Toàn cây (Herba Dendrobii Gratiosissimi).
Phân bố sinh thái:Loài phân bố ở Ấn Độ, Mianma, Thái Lan và Việt Nam. Ở nước ta, cây mọc ở rừng Quảng Trị, Quảng Nam - Đà Nẵng.
Công dụng, cách dùng:Cũng được sử dụng như Thạch hộc.

HOẠT BI-Harpullia arborea

HOẠT BI


Tên khoa học:Harpullia arborea (Blanco) Radlk.; thuộc họ Bồ hòn (Sapindaceae).
Đặc điểm thực vật:Cây gỗ cao 15m, nhánh non có lông sét. Lá kép lông chim với 3 - 5 cập lá chét bầu dục hay thon, đầu thon nhọn, có lông ở gân mặt dưới. Chùm hoa đầy lông hoe, hoa cao 1,5cm, cánh hoa có cuống. Quả nang đo đỏ, đường kính 4cm, 2ô; hạt đen bóng, có áo hạt.
Bộ phận dùng: Vỏ (Cortex Harpulliae Arboreae).
Phân bố sinh thái:Loài của Ấn Độ, Srilanca, Cam-puchia, Thái lan, Malaysia, Philippin, Ustralia. Ở nước ta, cây mọc ở Đắc Lắc và Bà Rịa - Vũng Tàu (Côn Đảo).
Thành phần hóa học:Quả chứa chất có saponin, hạt chứa dầu.
Công dụng, cách dùng:Ở Ấn Độ vỏ được dùng nấu nước gội đầu và cũng dùng làm thuốc duốc cá và ngăn chặn đỉa cắn. Dầu hạt có khi được dùng xoa bóp trị tê thấp.

HOA PHẤN-Mirabilis jalapa

HOA PHẤN


Tên khác: Bông phấn, Sâm ớt.
Tên khoa học: Mirabilis jalapa Linnaeus; thuộc họ Hoa giấy (Nyctaginaceae).
Tên đồng nghĩa: Nyctago jalapa (Linnaeus) Candolle.
Đặc điểm thực vật:Cây nhỏ cao 20-80cm. Rễ phình thành củ như củ sắn. Thân nhẵn mang nhiều cành, phình lên ở các mấu; cành nhánh dễ gẫy. Lá mọc đối, hình trứng, chóp nhọn. Cụm hoa hình xim có cuống rất ngắn, mọc ở nách lá gần ngọn. Hoa hình phễu, màu hồng, trắng hoặc vàng, rất thơm, nhất là về đêm. Quả hình cầu, khi chín màu đen, mang đài tồn tại ở gốc, bên trong có chất bột trắng mịn. 
Bộ phận dùng: Rễ và toàn cây (Radix et Herba Mirabitis).
Phân bố sinh thái:Cây gốc ở Mexico, được nhập trồng làm cảnh trong các vườn gia đình, cũng trồng ở các vườn thuốc. Trồng bằng hạt, độ 4-5 tháng thì có củ dùng được. Cây không kén chọn đất và nếu có đất xốp ẩm thì có nhiều củ và củ to.
Thú hái, chế biến:Thu hoạch rễ củ quanh năm, rửa sạch, bóc vỏ, thái mỏng dùng tươi hoặc phơi khô dùng dần. Có thể tẩm nước gừng rồi phơi khô, sao vàng để dùng, hoặc tán bột.
Thành phần hóa học:Có alkaloid trigonellin.
Tính vị, tác dụng:Rễ củ Hoa phấn có vị ngọt, nhạt, tính mát, có tác dụng tiêu viêm, lợi tiểu, hoạt huyết tán ứ. Ở Ấn Độ người ta cho rằng rễ kích dục, lọc máu; còn lá làm dịu, giảm niệu.
Công dụng, cách dùng:Thường dùng trị: 1. Viêm amygdal; 2. Viêm nhiễm đường tiết niệu, viêm tiền liệt tuyến; 3. Đái tháo đường, đái ra dưỡng trấp; 4. Bạch đới, băng huyết, kinh nguyệt không đều; 5. Tạng khớp cấp. Dùng ngoài trị viêm vú cấp, đinh nhọt và viêm mủ da, đòn ngã tổn thương, bầm giập, eczema. Hoa dùng trị ho ra máu.
Liều dùng: Dùng rễ 15-20 g dạng thuốc sắc, hoặc dùng 6-16g bột. Nghiền cây tươi để đắp ngoài, hoặc đun sôi lấy nước rửa. Phụ nữ có thai không dùng.
Bài thuốc:
1. Ho ra máu:  Hoa 120g, chiết dịch và trộn với mật ong uống.
2. Viêm amygdal:chiết dịch lá tươi và đắp vào chỗ đau.

HOÀNG TINH HOA TRẮNG-Disporopsis longifolia

HOÀNG TINH HOA TRẮNG


Tên khác: Vạn thọ trúc giả lá dài.
Tên khoa học:Disporopsis longifolia Craib; thuộc họ Hoàng tinh (Convallariaceae).
Tên đông nghĩa: Polygonatum laoticum Gagnepain; P. tonkinense Gagnepain.
Đặc điểm thực vật: Cây thảo, sống lâu năm. Thân rễ mập, mọc ngang chia thành những lóng tròn có sẹo to, lõm nom như cái chén và nhiều ngấn ngang. Thân đứng, nhẵn, cao khoảng 1m, góc thân có những đốm tía. Lá mọc so le, có phiến thon, to đến 20x4cm, mỏng; cuống ngắn 3-5mm. Hoa ở nách lá, rủ xuống, cuống hoa 1cm; bao hoa gồm 6 phiến dài 9mm, ống đài 3-4mm; nhị 6, chỉ nhị dẹp; bản tròn. Quả mọng hình cầu hơi có 3 cạnh khi chín màu tím đen. Mùa hoa tháng 3 - 5, mùa quả 6 - 8. 
Bộ phận dùng:Thân rễ (Rhizoma Disporopsis Longifoliae).
Phân bố sinh thái:Loài nguồn gốc Nam Trung Quốc, Việt Nam, Lào Cai và Thái Lan Cây mọc ở vùng núi cao ẩm mát ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Thái, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La, Hoà Bình, Thanh Hoá, Nghệ An.
Thu hái: Thu hái thân rễ vào mùa thu, rửa sạch, đổ chín, phơi khô. Khi dùng đun với nước mật, rồi phơi khô. Cùng làm như đối với Hoàng tinh hoa đỏ.
Thành phần hóa học:Thân rễ chứa tinh bột, chất nhày và đường.
Tinh vị, tác dụng:Cùng như Hoàng tinh hoa đỏ, Hoàng tinh hoa trắng có vị ngọt, tính bình, có tác dụng bổ trung ích khí, trừ phong thấp, nhuận tâm phế, ích tỳ vị, trợ gân cốt.
Công dụng, cách dùng:Thân rễ được dùng làm thuốc bổ, tăng lực, chữa mệt mỏi, kém ăn, đau lưng, thấp khớp, khô cổ khát nước.
Liều dùng: Ngày dùng 12 - 20g dạng thuốc sắc, tán bột hay ngâm rượu uống.
Bài thuốc: Thuốc bổ sinh tân dịch: Hoàng tinh 25g, Ba kích 20g, Đẳng sâm 10g, Thục địa 10 g. Tất cả thái mỏng, ngâm với một lít rượu 30 độ, thỉnh thoảng lắc đều khi dùng, pha thêm 100ml xi rô đơn. Ngày dùng 3 lần, trước 2 bữa ăn và khi đi ngủ, mỗi lần 1 chén nhỏ.

HOÀNG TINH HOA ĐỐM-Polygonatum punctatum

HOÀNG TINH HOA ĐỐM


Tên khoa học: Polygonatum punctatum Royle ex Kunth; thuộc họ Hoàng tinh (Convallariaceae).
Tên đồng nghĩa: Disporopsis mairei H. Léveillé; Polygonatum anomalum Hua; P. marmoratum H. Léveillé; P. mengtzense F. T. Wang & T. Tang; P. parcefolium F. T. Wang & T. Tang; P. sinomairei F. T. Wang & T. Tang.
Đặc điểm thực vật:Cây thảo phụ sinh hay ở đất, thân rễ to bằng đầu ngón tay, đường kính 1-1,5cm; rễ to; thân khí sinh 1-2, cao 30-70cm, xanh có đốm đỏ. Lá mọc so le, như có đốt ở gốc, gân cơ 11. Xim 2-6 hoa ở nách lá; hoa trắng, đài xanh, lá đài và cánh hoa ngắn, bằng 1/3 ống; nhị 6, đính ở giữa ống. Quả mọng đỏ, đường kính 7mm, chứa 8-10 hạt. Cây ra hoa quả tháng 3.
Bộ phận dùng:Thân rễ (Rhizoma Polygonati Punctati).
Phân bố sinh thái:Loài nguồn gốc Nam Trung quốc, Việt Nam, Ấn Độ, Nêpan. Ở nước ta, chỉ thấy mọc ở rừng thường xanh ở Nghĩa Lộ và Lâm Đồng.
Công dụng, cách dùng:Cây dùng làm thuốc bổ, giảm đau.