Showing posts with label Menispermaceae. Show all posts
Showing posts with label Menispermaceae. Show all posts

Monday, 10 November 2014

HOÀNG ĐẰNG LÁ TO-Cyclea bicristata

HOÀNG ĐẰNG LÁ TO


Tên khác: Sâm hai sóng.
Tên khoa học: Cyclea bicristata (Griff.) Diels; thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae).
Mô tả: Dây leo cao đến 8m; thân to cỡ 1cm, ở gốc rộng đến 8mm. Lá có phiến hình tim, to 12x1cm, láng ở mặt trên; gân phụ tạo thành mạng dây, mịn ở mặt dưới, gân gốc 7; cuống dài 5cm. Cụm hoa ở những nhánh già, hoa đơn tính, hoa đực có đài dính, không cánh; bao phấn 4-5 trên một đĩa, hoa cái có cánh hoa cao bằng nửa lá đài. Quả hạch tròn, to cỡ 4-5 mm, nhân có u nần.
Bộ phận dùng:Thân cây (Caulis Cycleae Bicristatae).
Phân bố sinh thái:Chỉ mới gặp ở một số nơi như Bảo Lộc (Lâm Đồng), Đức Linh (Bình Thuận), cùng điều kiện sống như cây Vằng đắng.
Thu hái: Có thể thu hái cây quanh năm; thái nhỏ phơi khô như Hoàng đằng.
Thành phần hóa học:Đã xác định có alkaloid, trong đó chủ yếu là berberin, có hàm lượng 0,9-1,1%. Ở loài Cyclea burmanii Miers của Ấn Độ, trong rễ có các alcaloid D-tetrandrin, DL-tetrandrin, D-isochondrodendrin.
Tính vị, tác dụng:Có vị đắng, tính lạnh, có tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, sát trùng. Palmatin có tác dụng ức chế đối với các vi khuẩn đường ruột.
Công dụng, cách dùng:Nhân dân địa phương ở Đức Linh lấy về thay thế Hoàng đằng và cũng gọi nó là Hoàng đằng, làm thuốc chữa bệnh kiết lỵ, ỉa chảy, sốt rét và cảm sốt.
Ghi chú: Cũng cần lưu ý là một loài khác cùng chi là Cyclea burmanni Miers (Cyclea peltata(Lam.) Hook.f. & Thomson) có rễ được dùng ở Ấn Độ để chữa nhiều bệnh như vàng da, đau dạ dày, sốt, và hen suyễn.suyễn.

HOÀNG ĐẰNG-Fibraurea tinctoria

HOÀNG ĐẰNG


Tên khoa học: Fibraurea tinctoria Lour.; Họ Tiết dê (Menispermaceae).
Mô tả: Dây leo to có rễ và thân già màu vàng. Lá mọc so le, dài 9-20cm, rộng 4-10cm, cứng, nhẵn; phiến lá bầu dục, đầu nhọn, gốc lá tròn hay cắt ngang, có ba gân chính rõ, cuống dài, hơi gần trong phiến, phình lên ở hai đầu. Hoa nhỏ, màu vàng lục, đơn tính, khác gốc, mọc thành chuỳ dài ở kẽ lá đã rụng, phân nhánh hai lần, dài 30-40cm. Hoa có lá đài hình tam giác; hoa đực có 6 nhị, chỉ nhị hơi hẹp và dài hơn bao phấn; hoa cái có 3 lá noãn. Quả hạch hình trái xoan, khi chín màu vàng. Mùa hoa tháng 5-7. 
Bộ phận dùng: Rễ và thân già (Radix et Caulis Fibraureae Tinctoriae).
Phân bố sinh thái:Cây của miền Đông Dương và Malaysia, mọc hoang ở ven rừng nơi ẩm mát vùng núi, gặp nhiều từ Nghệ An vào tới các tỉnh Tây Nguyên và Đông Nam bộ.
Thu hái: Rễ và thân cây vào tháng 8-9, cạo sạch lớp bần bên ngoài, chặt từng đoạn, phơi khô hay sấy khô.
Thành phần hóa học:Hoạt chất trong Hoàng đằng là alcaloid mà chất chính là palmatin 1-3,5% và một ít jatrorrhizin, columbamin và berberin.
Tính vị, tác dụng:Hoàng đằng có vị đắng, tính lạnh, có tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, sát trùng. Palmatin có tác dụng ức chế đối với các vi khuẩn đường ruột.
Công dụng, cách dùng:Thường dùng chữa các loại sưng viêm, chữa đau mắt, sốt rét, kiết lỵ, viêm ruột ỉa chảy, viêm tai, lở ngứa ngoài da và cũng dùng làm thuốc bổ đắng.
Liều dùng: Ngày dùng 6-12g sắc uống và nấu nước rửa ngoài. Còn dùng dưới dạng thuốc bột, thuốc viên hay thuốc nhỏ mắt.
Bài thuốc:
1. Chữa viêm đường tiết niệu, viêm gam virus, viêm âm đạo, bạch đới, viêm tai trong và hội chứng lỵ:Hoàng đằng, Mộc thông, Huyết dụ, mỗi vị 10-12g, sắc uống.
2. Viêm tai có mủ:Bột Hoàng đằng 20g trộn với phèn chua 10g, thổi dần vào tai ngày 2-3 lần.
3. Chữa kiết lỵ: Người ta còn dùng bột Hoàng đằng và cao Mức hoa trắng, hoặc phối hợp cao Hoàng đằng và cao Cỏ sữa lá lớn làm thuốc viên chữa kiết lỵ.
4. Mắt sưng đỏ hoặc có màng: Hoàng đằng 4g, phèn chua chút ít, tán nhỏ, chưng cách thuỷ gạn lấy nước trong mà nhỏ mắt. Hoặc dùng bột palmatin chlorhydrat pha chế thành thuốc nước để nhỏ mắt. Có khi người ta phối hợp Hoàng đằng với Hoàng liên nấu thành thuốc chữa đau mắt.

Wednesday, 26 February 2014

DÂY XANH LÔNG

DÂY XANH LÔNG

Tên khác: Dây xanh lông, Dây một, Dây Cót ken, Dây sâm, Dây hoàng thanh
Tên khoa học: Cocculus sarmentosus (Lour) Diels, thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae).
Mô tả: Dây leo, cành nhỏ; toàn cây có lông. Lá mọc so le, hình trứng thuôn, dài 3-9cm, rộng 1,3-6cm; gốc tròn, đầu tù và nhỏ hẹp, 3 gân chính nổi rõ, mép nguyên; cuống lá dài 0,3-1cm. Hoa rất nhỏ, màu vàng, tập họp thành chùm dài 2-5cm ở nách lá; chùm hoa mọc ở đầu cành thì dài hơn. Quả hạch tròn hơi dẹt, khi chín màu đen lam.
Bộ phận dùng: Rễ (Radix Cocculi Sarmentosi); ở Trung Quốc, người ta gọi là Kim toả chuỷ hay Mao mộc phòng kỷ. Rễ dài, hình trụ tròn, vỏ màu đen, cắt ngang ra thì thấy có tia thớ như nan hoa xe đạp. Thân cây cũng được dùng.
Phân bố và thu hái:Cây mọc hoang ở vùng núi các tỉnh Hà Tây (Ba Vì), Ninh Bình (Chợ Gành). Quảng Ninh (Tiên Yên, Móng Cái) cho tới Lâm Đồng. Cũng phân bố ở Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản. Thu hái thân và rễ quanh năm, rễ mang về, rửa sạch, thái lát và phơi khô.
Thành phần hoá học:Cây chứa thunbergin và mufangchin.
Tính vị, tác dụng:Vị đắng, tính lạnh; có tác dụng thanh nhiệt lợi niệu, khư phong trừ thấp.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Rễ dùng chữa 1. Sưng hầu họng; 2. Thận viêm thuỷ thũng, sỏi niệu đạo, niệu đạo viêm nhiễm; 3. Đau dây thần kinh hông, chấn thương đau nhức. Liều dùng 12-20g, sắc uống, thường phối hợp với các vị thuốc khác. Còn dùng trị rắn độc cắn, nhọt độc, có thể dùng nấu nước uống trong và lấy rễ tươi giã đắp ngoài. Thân dùng làm thuốc lợi tiểu và làm giảm sưng đau chân.
Bài thuốc:
1. Chữa phong thấp, khớp xương đau nhức, chân gối sưng phù, đau thần kinh hông, hay lao động đi đứng nhiều xuống máu sưng chân: Dây xanh lông 20g, Kê huyết đằng, Ngưu tất, Mộc thông, Tỳ giải, đều 12g; Đơn gối hạc, Thiên niên kiện, đều 8g; sắc uống.
2. Sỏi bàng quang, viêm thận cấp phù thũng, đái ra máu: Dây xanh lông, Huyết dụ, Mã đề, Mộc thông, Cỏ xước, rễ Cỏ tranh, mỗi vị 20g, sắc với bột Hoạt thạch 24g, chia làm 3 lần uống.

DÂY XANH

DÂY XANH

Tên khác: Dây xanh, Mộc phòng kỷ
Tên khoa học: Cocculus orbiculatus (L.) DC. (C. trilobus (Thunb.) DC.), thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae).
Mô tả: Dây leo gỗ mọc quấn, rụng lá, dài tới 3m. Lá mọc so le, dài 3-6cm, rộng 1-3cm, có lông, nhất là ở mặt dưới; gân gốc 3-5. Hoa nhỏ màu vàng trắng mọc thành chùm ở nách lá. Quả hạch, đen lam, to 5-6mm. Cây ra hoa tháng 5-6.
Bộ phận dùng: Rễ, (Radix Cocculi Orbiculati); ở Trung Quốc thường gọi là Mộc phòng kỷ.
Phân bố và thu hái:Cây của vùng lục địa á châu, phân bố ở Nam Trung Quốc, Nhật Bản. Chưa rõ sự phân bố ở nước ta, nhưng có tác giả gộp làm một với Cocculus sarmentosus (Lour.) Diels. Ở Trung Quốc, người ta phân biệt ra 2 loài. Rễ thu hái vào mùa hè và mùa thu. Rửa sạch, thái lát mỏng, dùng tươi hoặc phơi khô dùng dần.
Thành phần hoá học:Trong rễ có magnoflorin, trilobin, isotrilobin, homotrilobin, trilobamin, normenisarin và colobin.
Tính vị, tác dụng:Vị đắng, cay, tính hàn, có tác dụng trừ thấp, giảm đau, lợi tiểu, tiêu sưng, tiêu viêm, hạ huyết áp.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Rễ được dùng trị 1. Thấp khớp, đau khớp và đau xương; 2. Đau dạ dày, đau bụng, đau bụng kinh; 3. Đau họng; 4. Viêm thận phù thũng, bệnh đường tiết niệu; 5. Thấp khớp tim; 6. Huyết áp cao. Cũng được dùng chữa đau thần kinh. Liều dùng 15-30g, dạng thuốc sắc. Dùng ngoài trị đinh nhọt, bệnh ngoài da và rắn cắn, giã rễ tươi và đắp.
Ở Trung Quốc, người ta cho biết rễ chứa nhiều tinh bột, có thể dùng nấu rượu.
Bài thuốc:
1. Thấp khớp đau nhức xương: dùng Mộc phòng kỷ, Ngưu tất, mỗi vị 15g, sắc uống.
2. Viêm thận phù thũng, bệnh đường tiết niệu: Mộc phòng kỷ 15g, Mã đề 30g, sắc uống.
3. Đau họng: Mộc phòng kỷ 15-30g, sắc uống.

DÂY THẦN THÔNG

DÂY THẦN THÔNG

Tên khác: Dây thần thông, Rễ gió
Tên khoa học: Tinospora cordiflolia (Willd.) Miers, thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae).
Mô tả: Dây leo gần như là cây thảo, có thân xốp, có khía, ít sần sùi (không có mụn nhiều như Dây cóc). Lá có cuống, hình trái xoan - tim, gần hình mắt chim với một mũi nhọn rất nhẵn, dài 8cm, rộng 7cm, gân sơ cấp 5-7, gân giữa với 1 cặp gân bên, dính liền với các gân con thành những mắt lưới hình đa giác; cuống mảnh, nhẵn, ngắn hơn phiến. Hoa từng nhóm 3-4 cái xếp thành 1-2 chùm ở nách lá. Quả đỏ, hình trứng, chứa một hạt dẹp. Cây ra hoa tháng 12.
Bộ phận dùng:Thân và rễ (Caulis et Radix Tinosporae).
Phân bố và thu hái: Cây của vùng Đông Dương và Ấn Độ, mọc hoang ở vùng rừng núi, có khi thấy trên đất mùn núi đá, cũng thường được trồng. Thu hái thân dây và rễ quanh năm, dùng tươi hay cắt ngắn phơi khô dùng dần. Khi dùng có thể ngâm nước vo gạo hoặc nước tiểu trẻ em.
Thành phần hoá học:Người ta đã chiết được từ cây những chất đắng Tinosporin và berberin; thân tươi chứa một glucosid là giloin; còn có giloinin và gino-stercol.
Tính vị, tác dụng:Vị rất đắng, tính hàn, không độc, có tác dụng tả thực nhiệt, khử tích trệ, tiêu ứ huyết, tán ung độc, lợi tiểu, hạ nhiệt, thông kinh, lợi tiêu hoá.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường dùng làm thuốc bổ đắng, chữa sốt rét mới phát hay kinh niên (như Dây cóc) chữa viêm họng, no hơi đầy tức, đại tiện táo bón, bế kinh, kinh nguyệt không đều. Còn dùng trị thấp khớp, đái đường. Ở Ấn Độ, người ta dùng dây chữa sốt rét có chu kỳ, dùng giải nhiệt do sốt; bột rễ và thân chế thuốc bổ dưỡng dùng trị ỉa chảy và lỵ mạn tính. Dây tán bột rồi hãm uống dùng làm thuốc giải khát và kích dục. Dịch lá tươi có tác dụng lợi tiểu được dùng để trị bệnh lậu.
Cách dùng: Thường dùng sắc uống hay ngâm rượu uống. Có thể dùng dạng cồn thuốc. Ngâm 100g thân cây trong 500cc rượu 20 độ trong lọ kín trong vòng 1 tuần lễ. Chiết ra và thêm rượu cho đủ 500cc rồi lọc. Ngày dùng 30-90cc.

DÂY TÁO

DÂY TÁO

Tên khác: Dây táo, Dây đông cầu
Tên khoa học: Anamirta cocculus (L.) Wight et Arn., thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae).
Mô tả: Dây leo to, rộng 10cm ở gốc, có mủ trắng; vỏ nứt, có bầu. Lá nguyên, dạng tim, không lông, có 5-7 gân chính. Cụm hoa chuỳ kép ở thân già dài 40-50cm. Hoa nhỏ, đơn tính, thơm. Hoa đực có 6 lá đài, 3 cánh hoa, 20-30 nhị. Hoa cái có 4-5 lá noãn. Quả hạch tròn, hơi dẹp, to 1-2 cm, màu đỏ. Mùa hoa tháng 3-8, quả tháng 6-10.
Bộ phận dùng: Rễ (Radix Anamirtae).
Phân bố và thu hái: Cây của vùng Ấn Độ - Malaixia, mọc ở rừng và ven rừng, nhiều nơi từ Nghệ An tới Lâm Đồng, Tây Ninh. Có thể thu hái các bộ phận của cây quanh năm.
Thành phần hoá học:Trong cây có các alcaloid picrotoxin, cocculin, anamirtin. Vỏ quả chứa các alcaloid menispermin và paramenispermin; cả hai đều không có hoạt tính làm thuốc; độ độc do có picrotoxin. Hạt chứa một chất dầu màu vàng (50%) gồm có stearin và một chất kết tinh không có N là picrotoxin (1-1,5%) rất đắng, ít tan trong nước, tan trong rượu và các dung dịch kiềm.
Tính vị, tác dụng:Vỏ quả không mùi nhưng vị chát; thịt quả có vị cay; nhân hạt rất đắng do chất picrotoxin. Chất này rất độc đối với các loài động vật có xương sống; nó tác dụng trên hành tuỷ, não, tuỷ sống và sau cùng là đến tim. Liều chí tử vào khoảng 2,5g. Nó cũng độc với các loài có máu lạnh, nên được dùng để duốc cá (vài quả là đủ) song cá bắt được có độc, nên khi ăn, cần vứt bỏ ruột cá đi.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Cây và quả được dùng ở Ấn Độ, Malaixia và cả ở Việt Nam để duốc cá. Ở Ấn Độ, hạt được dùng trong việc điều trị bệnh lao phổi; thuốc mỡ từ quả hạch dùng để trừ sâu bọ và chữa các bệnh ngoài da và da đầu. Hạt được dùng ở Philippin cũng như ở Anh để diệt chấy rận. Thông thường, quả tán thành bột có thể sử dụng với liều thấp (0,5-4mg) để chữa chứng múa giật, nhưng chủ yếu làm thuốc giải độc khi bị ngộ độc cấp tính bởi các barbituric (thuốc ngủ) là những chất gây giảm áp thần kinh với liều 0,25g. Rễ được dùng ở Philippin làm thuốc chữa sốt, khó tiêu và làm thuốc điều kinh.

DÂY SƯƠNG SÂM NHỌN

DÂY SƯƠNG SÂM NHỌN

Tên khác: Dây sương sâm nhọn, Dây xanh nhọn
Tên khoa học: Tiliacora acuminata (Lam.) Miers, thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae).
Mô tả: Dây mọc trườn, to, nhánh non có lông. Lá có phiến cứng, cỡ 9x4cm, đầu nhọn hay tù, không lông, gân gốc 3. Chuỳ hoa mang hoa đều; hoa vàng, lá đài ngoài cao 2,5mm, lá đài trong to hơn, cánh hoa nhỏ, 6-8 nhị. Quả hạch xoan dài 10-12mm, đỏ. Hoa tháng 3-6, quả tháng 3-7.
Bộ phận dùng: Rễ (Radix Tiliacorae).
Phân bố và thu hái:Cây mọc ở rừng các tỉnh phía Nam, cũng thường được trồng. Còn phân bố ở Campuchia, Ấn Độ.
Thành phần hoá học:Có các alcaloid tiliacorin và tiliarin.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Ở Ấn Độ, người ta dùng rễ chà xát vào đá cho vụn ra thành bột; bột này được hoà nước lọc uống trị rắn độc cắn.

DÂY SƯƠNG SÂM

DÂY SƯƠNG SÂM

Tên khác: Dây sương sâm, Dây xanh ba nhị
Tên khoa học: Tiliacora triandra (Colebr.) Diels., thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae).
Mô tả: Dây leo, thân có lông mịn hay không lông. Lá có phiến xoan, dài 6-11cm, rộng 2-4cm, gân ở gốc 3-5, gân phụ 2-3 cặp, cuống 5-20mm. Cụm hoa ở nách lá hay ở thân già, có lông mịn; hoa đực màu vàng, cánh hoa 5-6, nhị 3; hoa cái có 6 cánh hoa, 8-9 lá noãn. Quả hạch đỏ, dài 7-10mm, rộng 6-7mm. Mùa hoa quả tháng 12-6.
Bộ phận dùng:Toàn cây (Herba Tiliacorae).
Phân bố và thu hái:Cây mọc ở rừng, trên núi đá vôi, tới độ cao 300m. Còn phân bố ở Campuchia, Lào, Thái Lan.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Nhân dân ta cũng thường trồng lấy lá làm thạch và làm rau ăn. Ở Campuchia, người ta dùng lá để ăn với lẩu Samlo; thân mang lá, phối hợp với các vị thuốc khác, dùng chế biến thành thuốc để điều trị bệnh lỵ.
Ở Thái Lan, người ta dùng rễ làm thuốc chống sốt.

DÂY SONG BÀO

DÂY SONG BÀO

Tên khác: Dây song bào
Tên khoa học: Diploclisia glaucescens (Blume) Diels, thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae).
Mô tả: Dây leo to, thân rộng 4-10cm, cành hơi xám và có vẩy nhẵn và có khía khi còn non. Lá có phiến xoan tim, dài 6-11cm, rộng 6-11cm, đáy ngang hay lõm, có khi hình lọng, không lông, mặt dưới hơi mốc, gân ở gốc 5; cuống lá thường dài 3-7cm, chuỳ hoa trên thân già; hoa đực có 6 lá đài, 6 cánh hoa; 6 nhị; hoa cái có 6 nhị lép. Quả hạch tròn dài, hơi cong dài. Hoa tháng 2.
Bộ phận dùng:Dây và lá (Herba et Folium Diploclisiae).
Phân bố và thu hái:Cây mọc ở rừng còi và ven rừng tới độ cao 1200m, tại nhiều nơi ở miền Bắc và đến tận Quảng Nam - Đà Nẵng, Khánh Hoà, Tây Ninh. Còn phân bố ở Nam Trung Quốc, Ấn Độ và các nước khác của Á châu nhiệt đới.
Thành phần hoá học:Lá chứa chất nhầy và saponin.
Tính vị, tác dụng:Dây, lá có tác dụng thanh nhiệt giải độc, khư phong trừ thấp.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Ở Trung Quốc, Dây song bào được dùng làm thuốc trị 1 Rắn độc cắn; 2. Phong thấp đau nhức xương; 3. Nhiễm trùng niệu đạo.
Ở Ấn Độ lá được tán thành bột và dùng uống với sữa để điều trị bệnh giang mai, thiểu năng mật và bệnh lậu. Liều dùng 20-40g, dạng thuốc sắc. Để trị rắn cắn, dùng lá tươi giã nát bôi xung quanh miệng vết thương.

Saturday, 22 February 2014

DÂY SÂM

DÂY SÂM

Tên khác: Dây sâm, Dây sâm lông, Dây mối, Sâm nam
Tên khoa học: Cyclea barbata Miers (C. peltata Hook. et Thw.), thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae).
Mô tả: Dây leo có các nhánh khía rãnh, có lông dày. Lá có cuống, hình khiên, cụt đầu hoặc hơi khía mép ở gốc, hình tam giác nhọn, tận cùng bởi một mũi nhọn hình sợi, màu lục và hầu như nhẵn ở mặt trên, màu nhạt và có lông mềm ở mặt dưới, dài 6-10cm, rộng 4-9cm, có 5-7 gân; cuống lá ngắn hơn phiến hai lần. Cụm hoa ở nách lá, dài hơn cuống lá, phân nhánh, với các nhánh ở dưới dài hơn, tới 7cm. Hoa thành đầu hình cầu hay hình trứng, màu vàng. Quả hạch hình cầu, màu đỏ, hẹp, có lông, đường kính 5mm. Hạch hình mắt chim, lồi cả hai mặt, có 8 u sần.
Bộ phận dùng: Rễ (Radix Cycleae Barbatae).
Phân bố và thu hái:Cây mọc hoang dại, phổ biến ở nhiều nơi. Thu hái rễ quanh năm, đào về, rửa sạch, thái lát, phơi khô.
Tính vị, tác dụng:Vị đắng, tính hàn; có tác dụng giải độc, giảm đau, tán ứ. Lá lợi tiểu, giải nhiệt, nhuận tràng nhẹ.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Nhân dân dùng dây làm vỏ để ăn trầu. Lá thường được vò làm thạch ăn (sương sâm) có tính mát, giúp giải khát, trị đái dắt và táo bón. Rễ thường dùng trị ỉa chảy, trị bệnh về gan, ghẻ cóc và bệnh trĩ.
Ở Trung Quốc, rễ được dùng trị:
1. Đau cổ họng (Yết hầu);
2. Đau dạ dày, đau răng;
3. Đòn ngã tổn thương.
Liều dùng 15-20g, dạng thuốc sắc.

DÂY NAM HOÀNG

DÂY NAM HOÀNG

Tên khác: Dây nam hoàng, Vàng giang hay Hoàng đằng
Tên khoa học: Fibraurea recisa Pierre, thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae).
Mô tả: Dây leo rất to, màu vàng. Thân non nhẵn, màu lục. Lá mọc so le, hình trái xoan hay thuôn mũi mác, không lông, dài 9-18cm, rộng 3-7cm, có 3 (5) gân gốc; cuống dài 5-14cm, phình ở hai đầu. Chuỳ hoa ở nách những lá đã rụng ở nhánh già; hoa nhỏ đơn tính, màu vàng lục, hoa đực có 6 lá đài, không có cánh hoa, 3-6 nhị; hoa cái có 6 nhị lép; 3 lá noãn. Quả hạch hình trái xoan, khi chín màu vàng hay màu da cam, chứa 1 hạt dày.
Bộ phận dùng: Rễ và thân già (Radix et Caulis Fibraureae Recisae).
Phân bố và thu hái:Cây của miền Đông Dương và Malaixia, thường mọc hoang ở rừng bình nguyên đến 1000m khắp nước ta, ở các tỉnh từ Nghệ An trở vào, gặp nhiều ở các tỉnh Tây Nguyên. Rễ thân, cành già thu hái vào mùa thu, cạo sạch lớp bẩn bên ngoài, chặt thành từng đoạn, phơi hoặc sấy khô.
Thành phần hoá học:Cây cũng chứa các thành phần tương tự như Hoàng đằng.
Tính vị, tác dụng:Cũng như Hoàng đằng, có vị đắng, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, lợi tiểu.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Dây nam hoàng được sử dụng làm thuốc trị kiết lỵ, đái đường, đau đầu và làm thuốc bổ dưỡng. Liều dùng 6-12g dược liệu tán bột uống, hoặc lấy bột làm thành viên 0,1g ngày uống 10-20 viên. Cũng có thể dùng dạng thuốc chiết palmatin chlorur làm thành dạng viên trị kiết lỵ, ỉa chảy, chữa nấm âm đạo, chữa đau mắt…

DÂY MỐI

DÂY MỐI

Tên khác: Dây mối
Tên khoa học: Stephania hernandifolia (Willd.) Walp. (S. japonica (Thunb.) Miers var. bicolor (Blume) Forman), thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae).
Mô tả: Dây leo, thân nhỏ, nhẵn hay hơi có lông. Lá mọc so le hình 3 cạnh, gốc cụt, đầu hơi nhọn, mặt dưới mốc; gân toả hình chân vịt từ đầu cuống; cuống nhẵn hay hơi có lông, dính ở cách mép của lá khoảng 2cm. Hoa mọc thành tán kép ở nách lá, các tán con dày đặc; cuống cụm hoa có lông. Hoa không cuống, có 6 lá đài, 2-3 cánh hoa, 6 nhị dính thành một đĩa có cuống, 1-2 lá noãn hình trứng. Quả chín màu đỏ tươi, hình thấu kính. Ra hoa tháng 4-6, có quả tháng 7-9.
Bộ phận dùng: Rễ dạng thân (Radix Stephaniae Hernandifoliae).
Phân bố và thu hái:Loài cổ nhiệt đới, mọc hoang ở bờ bụi, ven sườn núi, ven các suối vùng núi, khắp cùng ở vùng đồng bằng. Có thể thu hái dây và lá quanh năm, dùng tươi hay phơi khô dùng dần.
Thành phần hoá học:Rễ, thân rễ và lá đều chứa alcaloid, steroid và chất béo. Từ rễ, đã chiết được: fangochinolin, dl-tetrandrin d-tetrandrin và d-isochondrodendrin.
Tính vị, tác dụng:Rễ đắng, se, có tác dụng lợi tiểu, tiêu viêm, hạ nhiệt, cầm ỉa chảy, lợi tiêu hoá, làm long đờm, giảm ho.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Là vị thuốc dùng trong phạm vi dân gian chữa các triệu chứng tiểu tiện khó khăn (đái dắt, đái buốt....) chân tay sưng nhức, đau ở khớp xương. Cũng dùng trị ỉa chảy, tiêu hoá kém, sốt, lao phổi, đau ngực, ho, bệnh ngoài da và rắn cắn. Liều dùng: 30g dây lá tươi hoặc 6-12g cây khô sắc đặc uống.
Ở Ấn Độ, người ta dùng rễ trị sốt, ỉa chảy, đầy hơi, trướng bụng và bệnh đường tiết niệu. Ở Inđônêxia, dùng chữa sốt, đau dạ dày và ruột, bệnh lao phổi, đau ngực, ho, rò, mụn mủ, bệnh ngoài da. Ở Campuchia, người ta cũng vò lá và thân lấy chất nhầy, thêm đường vào ăn như Sương sâm. Lá và rễ được dùng để chế một loại thuốc uống hạ nhiệt. Ở Trung Quốc, rễ dạng thân dùng chữa viêm dạ dày, đau bụng, loét dạ dày và hành tá tràng, đòn ngã tổn thương, rắn độc cắn, viêm khớp do phong thấp, sốt rét, thấp sang, mụn nhọn sưng lở.


DÂY MỀ GÀ

DÂY MỀ GÀ

Tên khác: Dây mề gà
Tên khoa học: Limacia scandens Lour. (L. velutina Miers), thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae).
Mô tả: Dây leo 1-2m, nhánh mảnh, màu lục, nhẵn hay hơi có lông. Lá hình ngọn giáo, nhọn mũi và có mũi cứng bóng, hoàn toàn nhẵn, dài 6-9cm, rộng 25-45mm, có 3 gân gốc. Hoa thành chùm có lông ở nách lá, dài 2-3cm. Quả hạch dẹp, hình cầu, đường kính 10mm, có hạch với chỗ lõm hình móng ngựa hơi rõ, khi chín có màu đen; hạt to, dài 1cm, có nhân với nội nhũ và phôi cong hình lưỡi liềm. Hoa tháng 11-3, quả tháng 5-9.
Bộ phận dùng: Quả (Fructus Limaciae).
Phân bố và thu hái:Cây mọc phổ biến từ Quảng Trị đến Kontum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Tây Ninh. Còn phân bố ở Ấn Độ, Trung Quốc (Hải Nam).
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Quả ăn được, có vị chua.


DÂY LÕI TIỀN RỄ DÀI

DÂY LÕI TIỀN RỄ DÀI

Tên khác: Dây lõi tiền rễ dài
Tên khoa học: Stephania longa Lour., thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae).
Mô tả: Cây thảo leo dài 1-4m, không có củ nhưng có rễ rất dài, bò, ít rễ phụ; thân mảnh, cứng, leo quấn, không gai, có nhánh. Lá mọc so le, phiến lá hình lọng, dạng xoan tam giác, dài 3-9cm, rộng 2-6cm, không lông; 10-11 gân toả hình chân vịt; cuống lá 1-6cm. Cụm hoa tán ở nách lá, cuống chung dài 1-3cm, phân thành 3-6 cuống nhỏ không đều nhau, mang hoa màu trăng trắng. Quả xoan, dài 5-6 mm, rộng 4-5mm, màu đỏ tươi; hạt hình móng ngựa có ít cạnh một bên và u ở bên kia. Hoa tháng 2-5, quả tháng 5-8.
Bộ phận dùng: Toàn cây (Herba Stephaniae Longae).
Phân bố và thu hái:Loài phân bố ở các tỉnh phía Nam của Trung Quốc và Việt Nam. Ở nước ta, thường gặp ở vùng đất thấp các tỉnh từ Cao Bằng, Lạng Sơn tới Thừa Thiên- Huế. Thu hái quanh năm, có thể dùng tươi hay phơi khô dùng dần.
Tính vị, tác dụng:Có tác dụng thanh nhiệt, lợi niệu.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Cũng dùng như các loài lõi tiền khác làm thuốc thông tiểu chữa đái buốt, đái dắt, phù nề. Liều dùng 30g, dùng tươi hay 6-12g cây khô, dạng thuốc sắc.


DÂY LÕI TIỀN

DÂY LÕI TIỀN

Tên khác: Dây lõi tiền
Tên khoa học: Stephania japonica (Thunb.) Miers, thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae).
Mô tả: Dây leo, không lông, thân mảnh. Lá có phiến hình lọng, xoan rộng, đầu tù, mặt dưới không mốc, không lông, gân gốc 5-7 toả hình chân vịt; cuống dài 4-12cm. Tán kép xuất hiện trên thân có lá, cuống cụm hoa và cuống hoa không lông; tán hoa hình cầu, cuống dài 2,5-4cm, hoa đực có 6-8 lá đài không lông, 3-4 cánh hoa; hoa cái với 3-4 lá đài, 3-4 cánh hoa, 1 lá noãn có đầu nhuỵ chẻ 3-5. Quả hạch tròn, to 6-8mm, màu đỏ. Nhân hình móng ngựa.
Bộ phận dùng: Rễ và toàn dây (Radix et Herba Stephania Japonicae), thường có tên gọi là Thiên kim đằng.
Phân bố và thu hái:Cây mọc rải rác từ Bắc vào Nam trong các lùm bụi. Còn phân bố ở Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Philippin. Thu hái dây, rễ quanh năm, rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô.
Thành phần hoá học:Rễ chứa tinh bột; còn có các alcaloid như Stephanin, prostephanin, epistephanin, pseudoepistephanin và homostephanolin.
Tính vị, tác dụng:Vị đắng, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, tiêu thũng.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường được dùng trị rắn cắn, ghẻ ngứa; còn dùng chữa đái dắt, đái buốt. Ngày dùng 6-12g cây khô sắc uống, hoặc dùng dây lá tươi giã nát, hoà nước, gạn uống. Dùng ngoài lấy lá tươi giã nát.

DÂY HỒ CẦU

DÂY HỒ CẦU

Tên khác: Dây hồ cầu
Tên khoa học: Cocculus laurifolius DC., thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae).
Mô tả: Bụi đứng cao đến 6m; nhánh yếu không lông. Lá có phiến thon nhọn hai đầu, dài 7-11cm, rộng 3,5-5cm, không lông, 3 gân chính; cuống 3 -10mm. Chuỳ hoa ở nách những lá ở ngọn. Hoa vàng, không lông, 6 lá đài, 6 cánh hoa; hoa đực có 6 nhị; hoa cái có 6 nhị lép, 3 lá noãn. Quả hạch tròn, dẹp dẹp, to 5mm. Hoa tháng 5, quả tháng 9.
Bộ phận dùng: Rễ (Radix Cocculi Laurifolii).
Nơi sống và thu hái:Cây mọc ở vùng núi đồng bằng đến núi cao 1500m, gặp ở Ninh Bình, Hoà Bình, Khánh Hoà, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu. Còn phân bố ở nhiều nước châu Á: Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Lào, Thái Lan, Malaixia.
Thành phần hoá học:Vỏ và lá chứa alcaloid độc có nhân isoquinoleic, gọi là coclaurin (C17H19O3N). Rễ chứa một alcaloid không phenolic; cũng đã tách được magnoflorine.
Tính vị, tác dụng:Có độc; có tác dụng thuận khí, khai uất, tán hàn, giảm đau. Coclaurin và các alcaloid trong vỏ, lá có tác dụng như chất curarơ, làm bại các nhánh thần kinh trong cơ và làm giảm lượng máu của động vật thí nghiệm.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Ở Trung Quốc, cũng dùng rễ làm thuốc trị khí nghịch, đau ngực bụng, ăn lâu không tiêu, bệnh sa do lạnh (hàn sán), cước khí, đi đái nhiều lần và liên tiếp, khí hư.
Ở bán đảo Malaixia, những người ở vùng rừng núi thường dùng làm thuốc độc, tẩm độc các mũi tên bắn và lao.

DÂY HOÀNG LIÊN

DÂY HOÀNG LIÊN

Tên khác: Dây hoàng liên
Tên khoa học: Arcangelisia flava (L.) Merr., thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae).
Mô tả: Dây leo to, gỗ vàng tươi, mủ vàng, nhánh non không lông, đen, cũng như cuống lá. Lá có phiến lớn dài 10-25cm, rộng 45-49cm, dai cứng, không lông, gốc tròn hay hình tim; gân từ gốc 5; cuống 3-15cm, phình 2 đầu. Chuỳ hoa dài 10-15cm; hoa đơn tính, nhỏ. Quả xoan, dài 2-3cm, màu vàng.
Bộ phận dùng:Dây và rễ (Caulis et Radix Arcangelisiae).
Phân bố và thu hái:Loài phân bố ở Thái Lan, Việt Nam và Nam Trung Quốc. Ở nước ta, chỉ thấy mọc ở vùng thấp tỉnh Đồng Nai. Thu hái quanh năm, rửa sạch, thái lát, phơi khô.
Tính vị, tác dụng:Vị đắng, tính bình, hơi có độc; có tác dụng thanh nhiệt giải độc.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Ở Thái Lan, gỗ cây dùng lợi tiêu hoá, bổ huyết, làm thuốc điều kinh và trừ ỉa chảy. Rễ được dùng làm thuốc nhuận tràng.
Ở Trung Quốc, cây Cổ sơn long -Arcangelisia loureiri (Pierre) Diels, cũng được dùng trị:
1. Viêm ruột, lỵ;
2. Sưng amygdal, viêm khí quản;
3. Ghẻ lở;
4. Sốt rét.
Liều dùng 20-40g, sắc nước uống. Dùng ngoài nấu nước rửa chữa mẩn ngứa, mụn nhọt lở ngứa, nấm ở chân.

Friday, 21 February 2014

DÂY ĐAU XƯƠNG

DÂY ĐAU XƯƠNG

Tên khác: Dây đau xương, Tục cốt đằng
Tên khoa học: Tinospora sinensis (Lour.) Merr. (T. tomentosa Miers), thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae).
Mô tả: Dây leo bằng thân quấn, dài 8-10m. Thân màu xám, lúc đầu có lông, sau nhẵn, có lỗ bì sần sùi. Lá mọc so le, hình tim, mặt trên nhẵn, mặt dưới có lông tơ, gân lá hình chân vịt. Hoa màu vàng lục, mọc thành chùm ở nách lá, có lông màu trắng nhạt. Quả hình bầu dục hoặc tròn, khi chín có màu đỏ. Mùa hoa quả tháng 2-4.
Bộ phận dùng:Dây và lá (Caulis et Folium Tinosporae), thường gọi là Tục cốt đằng
Phân bố và thu hái:Cây của Đông Dương và Ấn Độ. Ở nước ta, thường gặp mọc hoang ở vùng núi, leo lên các cây nhỡ hay cây gỗ. Có thể trồng bằng đoạn thân vào đầu mùa mưa. Cây mọc rất khoẻ. Khi dùng làm thuốc, thu hái thân già, thái nhỏ, phơi khô. Dùng sống hay tẩm rượu sao. Có thể thu hái quanh năm.
Thành phần hoá học:Chỉ mới được biết trong cây có nhiều alcaloid.
Tính vị, tác dụng:Dây đau xương có vị đắng, tính mát, có tác dụng hoạt huyết, thư cân, thanh nhiệt, lợi thấp. Nói cách khác, nó là loại thuốc khu phong, trừ thấp, lợi gân cốt.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường dùng chữa sốt rét, phong thấp, chứng đau nhức gân cốt, đau dây thần kinh hông, đòn ngã tổn thương và để bổ sức. Lá tươi cũng dùng đắp lên các chỗ nhức trong gân cốt và trị rắn cắn.
Cách dùng: Mỗi ngày dùng 15-30g đun sôi trong nước uống. Cũng có thể ngâm rượu uống. Dùng riêng hoặc phối hợp với hạt Cốt khí và Đậu đen xanh lòng (kinh nghiệm dân gian). Cũng có thể ngâm rượu với tỷ lệ 1/5, uống ngày 3 lần, mỗi lần một cốc con. Lá thường dùng giã nhỏ vắt lấy nước cốt uống, lấy bã đắp trị rắn cắn, hoặc trộn với rượu để đắp lên chỗ sưng đau.
Bài thuốc:
1. Đau dây thần kinh hông: Dùng Dây đau xương, Lấu bò, Kê huyết đằng, Ngũ vị, Kim ngân, mỗi vị 15g. Đun sôi lấy nước uống.
2. Phong thấp gân xương đau nhức, chân gối rủ mỏi: Dùng Dây đau xương, Bưởi bung, Đơn gối hạc, Cỏ xước, Gấc (rễ), mỗi vị 20-30g sắc uống.
3. Đòn ngã tổn thương hoặc đi chạy nhiều sưng chân hay phong thấp sưng đầu gối: Dùng lá Dây đau xương giã nát chế rượu (hoặc giấm hay nước tiểu trẻ em) vào, vắt lấy nước cốt uống, bã thì chưng nóng bóp và đắp vào chỗ đau.

DÂY CÓC

DÂY CÓC

Tên khác: Dây cóc, Dây ký ninh, Thuốc sốt rét
Tên khoa học: Tinospora crispa Miers, thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae).
Mô tả: Dây leo bằng thân quấn, sống dai, dài tới 6-7m. Thân non nhẵn, thân già màu nâu xám, rất xù xì nom như da cóc. Lá hình trái xoan ngược - dạng tim hay hình thuôn, mọc so le, mép nguyên, dài 8-12cm, rộng 5-6cm, có cuống ngắn. Hoa tập hợp thành 1-2 chùm mọc ở nách những lá đã rụng. Quả hình trứng, khi chín có màu vàng rồi đỏ, dài chừng 12 mm, có cơm quả dày, chứa 1 hạt màu đen.
Bộ phận dùng:Dây (Caulis Tinosporae Crispae).
Phân bố và thu hái:Cây của Đông Dương và Ấn Độ, mọc hoang và cũng được trồng. Trồng bằng những đoạn cành dài 10-15cm cắm nghiêng xuống đất vào mùa xuân, thu.
Để làm thuốc, dùng dây già thu hái quanh năm, rửa sạch, cắt thành đoạn ngắn, thái mỏng dùng tươi hay phơi khô. Có thể tán bột, luyện viên cho dễ uống. Khi chế biến, có thể ngâm nước vo gạo hay nước tiểu trẻ em.
Thành phần hoá học:Dây chứa một alcaloid là palmatin, hàm lượng 0,10% trọng lượng khô. Ngoài ra còn có một chất đắng với tỷ lệ 0,60-0,80% trọng lượng khô. Hoạt chất đắng này là một heterosid không kết tinh, không hút ẩm, khó thuỷ phân bởi các acid. Người ta còn gọi nó là picroretin hay picroretinosid.
Tính vị, tác dụng:Dây có có vị rất đắng, tính mát, có tác dụng chống chu kỳ trong sốt, bổ đắng, hạ nhiệt, làm ra mồ hôi, tiêu đờm, tiêu viêm, tiêu độc, lợi tiểu, lợi tiêu hoá. Lương y Nguyễn An Cư cho nó là phá huyết thông kinh trệ, trục ứ, chỉ phúc thống, sát chư trùng, trừ thấp nhiệt, tiêu thũng đầy, cũng chữa sốt rét hay.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường dùng trị cảm sốt, phát ban, sốt rét cơn, ho, tiêu hoá kém và tiêu mụn nhọt. Dùng ngoài lấy nước sắc rửa mụn nhọn lở loét. Lá nghiền nát dùng đắp lên các vết thương và đắp trị ghẻ. Ở Ấn Độ, người ta dùng trong suy yếu toàn thân.
Cách dùng: Ngày dùng 4-8g khô, dạng thuốc sắc. Hoặc dùng tươi hãm trong nước sôi để nguội uống. Hoặc nấu thành cao, ngày uống 0,50-1,50g. Dùng bột luyện thành viên, ngày 2-3g. Dùng ngoài, nấu nước rửa mụn nhọt, vết thương.
Dùng rễ sắc uống chữa sốt rét cơn.
Đơn thuốc kinh nghiệm chữa sốt rét ở An Giang, dùng chữa sốt rét dây dưa và chặn cử rét: Dây đau xương 16g; Dây kỳ nam hương 10g; Dây thần thông 10g; Dây cóc 10g, hiệp chung 1 thang sắc uống trước cử 2 giờ. Đổ 3 chén, sắc còn 9 phân. Uống ngày 1 thang.
Có người còn dùng chữa bò gầy ốm, biếng ăn: Giã tươi một đoạn dây (dài bằng một lóng tre), thêm muối, lọc nước cho uống, bò sẽ mạnh trở lại.

Friday, 4 October 2013

CỦ GIÓ-Tinospora capillipes-cây thuốc nam chữa ho mất tiếng

CỦ GIÓ


Tên khoa học: Tinospora capillipes Gagnep., thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae).
Mô tả: Dây leo, mềm, thường xanh; cành tròn có lông nhỏ. Rễ dài, cứ từng đoạn lại phình lên thành củ mập, vỏ ngoài màu vàng nâu, ruột màu trắng. Lá hình mác, mọc so le, có cuống dài; gốc lá hình mũi tên; gân lá hình chân vịt có lông nhỏ. Hoa nhỏ, màu lục vàng, mọc thành chùm ở nách lá. Quả thuôn; hạt tròn dẹt. Mùa hoa tháng 3-5.
Bộ phận dùng: Rễ củ (Radix Tinosporae Capillipis); ở Trung Quốc, có tên là Kim quả lãm.
Phân bố sinh thái:Cây mọc hoang ở vùng núi cao, chỗ ẩm, râm mát, nhất là ở các núi đá vôi ở Lạng Sơn.
Thu hái: Thu hoạch rễ quanh năm, tốt nhất là vào mùa thu, đông, rửa sạch, thái mỏng, phơi khô hoặc sấy khô.
Thành phần hoá học:Rễ cây chứa tinosporin, columbin.
Tính vị, tác dụng:Cây có vị đắng, the, tính lạnh; có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi yết, chỉ thống.
Công dụng: Thường được dùng trị 1. Cổ họng sưng đau, ho mất tiếng; 2. Đau bụng ỉa chảy.
Liều dùng: Ngày dùng 6-12g, dạng thuốc sắc, ngâm rượu hoặc tán bột uống. Dùng ngoài giã nát đắp chữa ung nhọt, viêm tấy.