Showing posts with label Acanthaceae. Show all posts
Showing posts with label Acanthaceae. Show all posts

Sunday, 9 November 2014

HOA CHÔNG-Barleria cristata-cây thuốc chữa ho gà, sốt rét

HOA CHÔNG


Tên khoa học: Barleria cristata Linnaeus; thuộc họ Ô rô (Acanthaceae).
Tên đồng nghĩa: Barleria cavaleriei H. Léveillé; B. ciliata Roxburgh; B. cristata var. mairei H. Léveillé; B. dichotoma Roxburgh; B. laciniataNees; B. napalensis Nees.
Mô tả: Cây thảo hay cây nhỡ, cao 0,5-2m. Cành non có lông. Lá có cuống ngắn, mép nguyên, hai mặt có lông. Hoa to, mọc đơn độc hay thành bông ở ngọn hay ở nách lá, lá bắc hình sợi; lá đài 4, có răng nhọn như gai; tràng 5, màu xanh hay hồng, có ống hình phễu dài, phía trên xẻ 5 thuỳ gần đều nhau; nhị sinh sản 2. Quả nang có 4 hạt. Cây ra hoa tháng 5-10.
Bộ phận dùng: Rễ, lá và toàn cây (Radix, Folium et Herba Barleriae).
Phân bố: Loài phân bố ở Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Việt Nam, Indonesia. Ở nước ta, cây mọc hoang khắp nơi, ở đất thịt đá vôi cũng như ở savan. Cũng được trồng làm cảnh vì hoa có màu sắc đẹp.
Tính vị, tác dụng:Toàn cây có tác dụng thanh phế, long đờm, cầm máu, cắt cơn sốt rét.
Công dụng, cách dùng:ở Trung Quốc dùng trị phổi nóng, ho ra máu, ho gà, sốt rét.
Ở nước ta, cây được dùng chữa rắn cắn, tê thấp, đau tai, đau mắt và sưng phổi.
Ở Ấn Độ, rễ và lá dùng tiêu sưng, nước sắc rễ, lá dùng trị ho; cây được dùng trị rắn cắn.

Tuesday, 28 October 2014

GAI KIM-Chông-Barleria prionitis-cây thuốc chữa sâu răng

GAI KIM


Tên khác: Chông.
Tên khoa học: Barleria prionitis L.; thuộc họ Ô rô (Acanthaceae).
Mô tả: Cây nhỡ mọc đứng, phân nhánh. Lá có cuống xoan thon hẹp dài ở góc, đầu nhọn sắc, có gai, dài 2-12cm, rộng 1-6cm, nguyên, có lông rải rác ở trên, có lông mềm thưa ở dưới; gai ở nách, chia 4. Hoa ở nách lá, đơn hay ít khi chụm lại, các hoa phía trên sít gần nhau thành bông ở ngọn. Quả nang có hai hạt.
Bộ phận dùng:Lá, vỏ và rễ (Folium, Cortex et Radix Barleriae).
Phân bố sinh thái:Loài phân bố ở châu á và châu Phi nhiệt đới. Gai kim mọc phổ biến ở miền Nam nước ta.
Thành phần hoá học:Hoa có chất đường mật. Cây chứa alcaloid và giàu về kalium.
Tính vị, tác dụng:Có vị đắng, cay, tính ấm, có tác dụng làm ra mồ hôi, long đờm, ngừng ho, giải độc, tiêu thũng.
Công dụng, cách dùng:
Lá sắc đặc ngậm chữa sâu răng; cành lá sắc uống chữa ho. Ở Ấn Độ, dịch lá dùng để rửa và dùng xoa để ngăn ngừa nứt nẻ chân vào mùa mưa. Dịch lá đắng và cay được sử dụng nhiều trong các bệnh xuất tiết của trẻ em kèm theo sốt rét. Dịch tươi của vỏ được dùng trong bệnh phù toàn thân. Vỏ khô được dùng trị ho. Rễ nghiền giã thành bột dùng làm giảm sưng và làm tan mụn nhọt. Nước sắc các bộ phận của cây dùng rửa toàn thân trong bệnh tích dịch gây phù.
Ở Trung Quốc, rễ cây dùng chữa đau răng, ho và dùng ngoài trị bệnh trĩ.

Saturday, 1 March 2014

DÓNG XANH

DÓNG XANH

Tên khác: Dóng xanh, Thanh táo tuy, Thường sơn trắng
Tên khoa học: Justicia ventricosa Wall., thuộc họ Ô rô (Acanthaceae).
Mô tả: Cây nhỏ có thể cao tới 2-3m; nhánh phình mạnh ở các đốt. Lá có cuống thon hay thuôn, thon hẹp ở gốc và nhọn ngắn lại ở đầu, dài 7-20cm, rộng 3-8cm, dai. Hoa trắng rồi vàng lục, chấm những điểm màu đỏ, xếp 4 dãy thành bông ở ngọn các nhánh. Quả nang cao 17mm. Ra hoa kết quả vào mùa xuân hè.
Bộ phận dùng:Toàn cây và lá (Herba et Folium Justiuciae Ventricosae).
Phân bố và thu hái:Cây mọc rải rác ở chỗ ẩm, gần suối trong rừng khắp nước ta từ Cao Bằng, Bắc Thái, Ninh Bình, Quảng Trị cho tới Sông Bé. Còn phân bố ở các nước nhiệt đới Viễn đông. Cũng thường được trồng làm cây cảnh và làm thuốc. Thu hái lá và toàn cây quanh năm, dùng tươi hoặc rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô dùng dần.
Tính vị, tác dụng:Vị cay, hơi chua, tính bình, có tác dụng hoạt huyết, khu ứ, trừ phong thấp.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Ở Trung Quốc, cây được dùng trị 1. Đòn ngã, gãy xương; 2. Phong thấp đau nhức xương, đau thần kinh ngang thắt lưng; 3. Viêm mủ da, apxe vú. Liều dùng 15-30g dạng thuốc sắc. Dùng ngoài giã đắp. Ở nước ta, lá còn được nấu xông dùng trị đau răng. Lá cũng dùng chữa rắn cắn.
Bài thuốc:
1. Trị rắn cắn:dùng lá Dóng xanh 50g, giã nát, thêm nước gạn uống. Lá trầu không 10g, nấu nước, rửa sạch vết cắn. Vỏ cây Nóng 30g, giã nhỏ đắp xung quanh vết cắn.
2. Gãy xương:Dóng xanh, Thanh táo, Chua me đất, Xuyên tiêu, tất cả đều dùng tươi, mỗi vị 30g, nghiền nát thêm ít rượu vang đắp xung quanh vết thương, sau khi đã chỉnh lý lại tư thế của xương và có nẹp giữ xương. Hàng ngày thay thuốc.
3. Apxe vú: Dùng lá tươi và thân cây, giã ra với mật đường đỏ và bã rượu để đắp ngoài.

Friday, 28 February 2014

ĐÌNH LỊCH

ĐÌNH LỊCH

Tên khác: Đình lịch, Thốp nốp
Tên khoa học: Hygrophila Salicifolia (Vahl) Nees (ll. angustifolia R.Br). thuộc họ Ô rô (Acanthaceae).
Mô tả: Cây thảo rất đa dạng, cao đến 1m, không lông hay có rất ít lông nhất là dưới cụm hoa; thân vuông, mọc đứng hay mọc nằm, phình ở các mấu. Lá có phiến xoan, thường thon dài hay thuôn, nguyên hay khía tai bèo. Hoa thành xim co ở nách lá, tiền diệp hẹp; lá đài 6-10 mm, dính nhau đến 1/2 hay toàn bộ; tràng màu tim tím, dài 12-18mm; nhị sinh sản 4. Quả nang nâu đậm, chứa 20-35 hạt có lông hút nước. Hoa tháng 5-12.
Bộ phận dùng: Hạt và toàn cây (Semen et Herba Hygrophilae Salicifoliae).
Phân bố và thu hái:Cây mọc ở ruộng, đất hoang nhiều nơi, phổ biến khắp nước ta. Còn phân bố ở Ấn Độ, Trung Quốc, Lào, Campuchia.
Thành phần hoá học:Lá chứa 18% tro giàu kalium. Hạt chứa 25% dầu béo và có vết của một alcaloid đắng.
Tính vị, tác dụng:Vị ngọt, hơi đắng, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt giải độc, hoá ứ giảm đau.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Ở Malaixia, lá thường được dùng làm thuốc đắp chữa vết thương và sưng phù. Ở Malaixia, dịch lá hơi se dùng làm thuốc lọc máu và làm săn da. Hạt dùng ở Java làm thuốc đắp trị đau đầu và sốt.
Ở Vân Nam Trung Quốc, dây được dùng trị viêm hầu họng, viêm tuyến vú, thổ huyết, chảy máu mũi, ho gà; dùng ngoài trị gãy xương, đòn ngã tổn thương.
Ghi chú: Một số loài Đình lịch khác, như Đình lịch lông trắng - Hygrophila phlomoides Ness, cũng có lá dùng làm thuốc đắp trị mụn nhọt và đau đầu; Đình lịch lông xám - Hygrophila incana Nees, có hạt dùng trị ghẻ.

Monday, 19 August 2013

CƠM NẾP-Strobilanthes affinis-cây thuốc nam làm thuốc lợi sữa

CƠM NẾP


Tên khác: Chuỗi sò.
Tên khoa học: Strobilanthes affinis Y.C. Tang; thuộc họ Ô rô (Acanthaceae).
Tên đồng nghĩa: Adenosma affinis Griff.; Strobilanthes affinis (Griff.) Y.C. Tang; S. acrocephalus T. Anders.; S. acrocephalus T. Anders. var. glabrior Benoist; thuộc họ Ô rô (Acanthaceae).
Mô tả: Cây thảo bò rồi đứng, nhánh phình ở các mấu, có lông mịn. Lá mọc đối, không bằng nhau từng cặp, phiến xoan rộng 6x4cm, đầu có mũi, gốc tù, gân phụ 5-6 cặp, mép khía răng tròn và nhăn nheo, hai mặt đều có lông thưa; cuống dài 1cm. Chùm hoa ở ngọn nhánh, có lá bắc kết lợp; lá đài có lông và rìa lông; tràng màu lam hay hồng, cao 1,5cm; nhị 4, thò; bầu và vòi nhuỵ có lông. Cây ra hoa tháng 3-5 trở đi tới tháng 8-9.
Bộ phận dùng: Cả cây trừ rễ (Herba Strobilanthis Affinis).
Phân bố sinh thái:Cây mọc hoang thành bãi dưới tán rừng thưa, chỗ ẩm mát, ở thung lũng, gần các suối trong rừng ẩm núi cao Hà Giang, Bắc Thái, Lạng Sơn, Ninh Bình. Thu hái cây quanh năm, tốt nhất là vào đầu mùa hè, phơi khô.
Tính vị, tác dụng:Vị đắng, mùi thơm, tính ấm; có tác dụng an thần lợi sữa, tiêu viêm.
Công dụng: Thường được dùng làm thuốc lợi sữa và bó gãy xương.
Bài thuốc:
1. Phụ nữ nuôi con ít sữa: dùng 50-100g lá tươi, luộc vớt bỏ bã, cho gạo nếp vào nấu cháo ăn.
2. Bó gãy xương: 50g lá tươi giã nhỏ với 20 g lá Chanh, 20g lá Dâu tằm, 5g muối trắng, một con gà con, đắp bó chỗ gãy.

Friday, 7 June 2013

CHÀM MÈO-CÔNG DỤNG CÁCH DÙNG-CÂY THUỐC NAM

CHÀM MÈO


Tên khác: Chàm lá to, Phẩm rô, Chàm nhuộm, Mã lam, Thanh đại.
Tên khoa học: Strobilanthes cusia (Nees) Kuntze.; thuộc họ Ô rô (Acanthaceae).
Tên đồng nghĩa: Goldfussia cusia Nees; Strobilanthes cusia (Nees) Imlay; Baphicacanthus cusia (Nees) Bremek.; Strobilanthes flaccidifolius Nees
Mô tả: Cây nhỏ lưu niên, cao 40-80cm (có khi đến 2m); thân nhẵn, phân nhánh nhiều, phình lên ở các mấu. Lá mọc đối, thường mềm ỉu, hình trái xoan hay bầu dục thon, dài 10-13cm, gân phụ 6-7 cặp, mép có răng hay khía tai bèo, các lá cùng một đôi thường không bằng nhau. Hoa mọc so le hay mọc đối, xếp thành bông ít hoa; các bông này lại xếp thành chuỳ; lá bắc hình lá, nhẵn, lá bắc con hình sợi; đài cao 1cm, các lá đài nhọn; tràng hoa màu lam đến tím, cuống dài 3-3,5cm, phía trên loe ra, có 5 thuỳ bằng nhau, nhị 4; bầu không lông. Quả nang dài, không lông. Mùa hoa quả tháng 11-2.
Bộ phận dùng: Lá (Folium Strobilanthis Cusiae), thường gọi là Mã lam; Bột chàm (Indigo naluralis), thường gọi là Thanh đại.
Phân bố sinh thái: Cây mọc hoang ở các thung lũng ẩm ướt, các núi đá và được trồng lấy cành lá để nhuộm màu xanh chàm. Ở hầu hết các tỉnh vùng cao ở miền Bắc như Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Thái, Hà Bắc đều có trồng chàm mèo trong các vườn gia đình hay trên nương rẫy gần nguồn nước, ở miền Nam cũng có trồng ở Bình Định. Người ta trồng chàm mèo bằng cách vào tháng 3-4. Sau khi trồng được 6 tháng đã có thể thu hái lá. Dùng lá tươi để chế bột chàm; lá tươi ngâm nước ở 30oC trong 12 giờ cho lên men. Lọc men, lọc, kiềm hoá bằng vôi và khuấy liên tục 4-5 giờ. Lọc gạn lấy bột Chàm, ép kiệt nước, thái thành miếng, phơi trong mát đến khô. Bột Chàm tốt phải chứa 60-70% indigotin.
Thành phần hoá học: Lá Chàm mèo chứa 0,4-1% indican. Khi thuỷ phân, indican cho indoxyl và glucose. Khi bị oxy hoá, indoxyl cho indigotin. Indigotin có màu xanh lam sẫm. Còn có indirubin.
Tính vị, tác dụng: Chàm mèo và Thanh đại có vị đắng nhạt. tính lạnh, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, mát máu, tiêu ban mẩn, sưng viêm và cầm máu. Thanh đại tính hàn, như là chàm và cũng tác dụng thanh nhiệt, tán uất, lương huyết, giải độc. Người ta đã nghiên cứu tác dụng kháng nội tiết sinh dục nữ, gây sẩy thai, gây tăng co bóp tử cung một cách nhịp nhàng.
Công dụng: Chàm mèo được dùng chữa trẻ em kinh sợ, cam nhiệt, sốt, sốt phát cuồng, sưng amydgal, nôn mửa, thổ huyết, phụ nữ rong kinh, rong huyết. Ngày dùng 4-6g cao lá trộn thêm đường, hoặc dùng 1-4g bột Thanh đại với nước. Dùng ngoài lấy cả cây Chàm mèo nấu cao đặc bôi chữa chàm chốc viêm lợi chảy máu mồm miệng lở loét, rắn độc và sâu bọ cắn.
Bài thuốc: Tuệ Tĩnh đã dùng lá Chàm và Thanh đại để chữa một số bệnh sau:
1. Chữa uống thuốc quá liều lượng mà ngộ độc, buồn bực nguy cấp: Lá Chàm giã nhỏ, chế nước nguội, vắt lấy nước cốt uống vài bát.
2. Chữa chảy máu mũi: bột Chàm, bồ hóng sao, tán bột lượng bằng nhau, uống mỗi lần 4g.
3. Chữa đơn lở nổi bọng nước, đau nhức: Lá chàm giã nát đắp.
4. Chữa trẻ em cam răng, thối loét: dùng Thanh đại bôi khắp chân răng, mỗi giờ bôi một lần.
5. Chữa trẻ em sốt cao co giật, trợn mắt, hôn mê: Thanh đại hoà với nước cho uống, mỗi ngày 2-8g chia uống làm nhiều lần.
Viện Dược liệu đã bào chế viên Thanh đại từ cao khô lá Chàm sao để chữa cho phụ nữ bị rong kinh. Dùng viên thanh đại chứa 0,25g cao khô lá Chàm mèo, mỗi ngày uống 10 viên chia làm 2 lần. Uống từ thời điểm 5 ngày trước lúc bắt đầu có kinh nguyệt và uống liên tục 10 ngày. Uống nhắc lại như vậy vào tháng 2, thứ 3 hoặc lâu hơn, cho đến khi kinh nguyệt trở lại bình thường thì ngừng uống thuốc. Nếu lại tiếp tục uống kéo dài, kinh nguyệt có thể bị chậm lại quá mức bình thường.
Người ta cũng dùng cao Chàm mèo phối hợp với cao Ích mẫu để gây sẩy thai ở giai đoạn sớm (thời kỳ đầu thai nghén) đạt kết quả 63%.

Thursday, 6 June 2013

CANG MAI-CÔNG DỤNG CÁCH DÙNG-CÂY THUỐC NAM

CANG MAI


Tên khác: Xuân tiết, Tô đa.
Tên khoa học: Justicia adhatoda L.; thuộc họ Ô rô (Acanthaceae).
Tên đồng nghĩa: Adhatoda vasica Nees
Mô tả: Cây nhỡ hay cây gỗ nhỏ cao 2-7m. Lá có cuống, hình ngọn giáo nhọn ở gốc, có mũi hay nhọn ở chóp, nguyên, nhẵn ở mặt trên, hơi có lông mịn ở mặt dưới, dài 7-25cm, rộng 2,5-7cm. Hoa to, thành bông ở ngọn, có cuống dài 3-7 cm. Quả nang có lông mềm, dài 6mm, chứa 4 hạt dẹp hình lăng kính.  
Bộ phận dùng: Toàn cây (Herba Justiciae).
Phân bố sinh thái: Loài của Ấn Độ, Trung Quốc... Cây trồng ở Quảng Trị làm cảnh vì có hoa màu trắng có vân đẹp. Ở Lào, người ta cũng trồng gần các đình chùa và các khu dân cư.
Thành phần hóa học: Lá chứa alcaloid vasicin và một lượng ít tinh dầu. Còn có l-peganin (l-vascin). Nếu chiết xuất lá sẽ được một chất lỏng chứa hai base có tính chất giảm co thắt; nếu chiết bằng lôi kéo hơi nước sẽ có một chất diệt giun và diệt cỏ. Người ta còn tách được alkaloid vasicinon có tác dụng làm dãn khí quản như adrenalin. Hạt chứa dầu béo 25,6% gồm có sitosterol và các acid arachidic, behenic, lignoceric, cerotic, oleic và linoleic.
Tính vị, tác dụng: Vị đắng, cay, tính ấm, có tác dụng khư phong hoạt huyết, tán ứ giảm đau, tiếp xương. Lá và rễ có tính kháng khuẩn đường hô hấp và làm long đờm. Hoa và rễ cũng có tính kháng khuẩn. Dầu từ lá, hoa và rễ có tác dụng chống vi trùng lao.
Công dụng: Lá và rễ sắc uống dùng trị ho, viêm phế quản mạn tính, hen suyễn, lao phổi. Lá còn được dùng trị thấp khớp và làm thuốc sát trùng. Ở Trung Quốc, người ta dùng toàn cây để làm thuốc trừ đờm và trị chứng kinh nguyệt quá nhiều của phụ nữ. Ở Thái Lan, lá dùng trị dãn phế quản, phân giải chất nhầy; dùng ngoài để cầm máu vết thương. Rễ được dùng trị bệnh lao và làm thuốc bổ phổi. Ở Trung Quốc, người ta dùng toàn cây chữa gãy xương, trẹo chân, phong thấp đau nhức khớp, đau eo lưng.
Bài thuốc:
1. Chữa ho, cảm sốt, sốt rét: Lá hoặc rễ Cang mai sắc uống.
2. Chữa hen: Hoa và lá sắc uống.

Wednesday, 22 May 2013

CẨM-CÔNG DỤNG CÁCH DÙNG-CÂY THUỐC NAM

CẨM



Tên khoa học: Peristrophe roxburghiana (Schult.) Bremek.; thuộc họ Ô rô (Acanthaceae).
Tên đồng nghĩa:  Peristrophe tincloria (Roxb.). Nees
Mô tả: Cây thảo nhiều năm, mọc toả cao 50cm. Cành nhẵn, có 4-6 rãnh dọc. Lá hình trứng, thuôn hay hình ngọn giáo, gốc nhọn, mặt dưới có lông. Cụm hoa nhỏ ở ngọn. Bao chung của cụm hoa có lá bắc không đều, có khoảng 10 hoa nằm lẫn giữa những lá bắc con hình tam giác nhọn, nhỏ hơn lá đài. Đài 5, đều nhau, dính vào nhau đến ½. Tràng màu tím, hồng hay trắng, ống hơi dài hơn môi, môi dưới hơi khía 3 thuỳ. Nhị 2, bao phấn tù. Bầu 2 ô, mỗi ô 2 noãn. Quả nang dài 1,5cm. Hoa vào mùa thu, đông.
Bộ phận dùng:Toàn cây (Herba Peristrophis Roxburghianae).
Phân bố sinh thái:Cây mọc hoang ở Lào Cai, Hoà Bình và được trồng vì lá cho màu tím tía dùng nhuộm bánh, xôi. Có thể thu hái quanh năm, rửa sạch, dùng tươi hay phơi khô dùng.
Tính vị, tác dụng:Vị ngọt và nhạt, tính mát; có tác dụng chống ho, cầm máu, tán ứ.
Công dụng:Thường dùng trị: 1. Lao phổi, khái huyết, ho, nôn ra máu; 2. Viêm phế quản cấp tính, ỉa chảy, lỵ; 3. Ổ tụ máu, bong gân cấp.
Liều dùng:15-30g mỗi ngày, dạng thuốc sắc. Dùng ngoài giã đắp. Không dùng cho phụ nữ có thai.

Sunday, 19 May 2013

BIẾN HÓA SÔNG HẰNG-CÔNG DỤNG CÁCH DÙNG-CÂY THUỐC NAM

BIẾN HÓA SÔNG HẰNG


Tên khác: Thập vạn thác.
Tên khoa học: Asystasia gangetica (L.) T. Anders.; thuộc họ Ô rô (Acanthaceae).
Tên đồng nghĩa: Justicia gangetica L.; Asystasia coromandeliana Nees; A. chelonoides Nees;
Mô tả: Cây thảo rất đa dạng, mọc nằm, sống nhiều năm. Lá có cuống phiến xoan, nhọn, tù tròn hay gần hình tim ở gốc, nhọn, dài 3-12cm, rộng 1-4cm, mặt dưới phủ lông rải rác. Hoa xếp thành chùm ở ngọn hay ở bên. Quả nang dài 3cm, có phần gốc không sinh sản dài 15mm; hạt có bề mặt sần sùi, có mép lượn sóng không đều.
Bộ phận dùng: Lá (Folium Asystasiae Gangeticae).
Phân bố sinh thái: Loài của Ấn Độ, Thái Lan, Nam Ðông Dương. Ở nước ta cũng gặp cây mọc dọc đường đi, bờ rào một số nơi từ Thừa Thiên-Huế đến Khánh Hoà.
Thành phần hoá học: Có các vết của alkaloid.
Tính vị, tác dụng: Có tác dụng trừ giun, tiêu sưng, trừ thấp.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Ở Ấn Độ, người ta dùng dịch lá làm thuốc trừ giun xoa trị sưng viêm và đau thấp khớp.

Saturday, 18 May 2013

CÂY BÁN TỰ CẢNH-Hemigraphis alternata-cây thuốc nam chữa cúm

BÁN TỰ CẢNH

Tên khoa học: Hemigraphis alternata (Burm. f.) T.Anderson; thuộc họ Ô rô (Acanthaceae).
Tên đồng nghĩa: Hemigraphis colorata (Blume) Hallier f.
Mô tả: Cây thảo mọc đứng hay mọc nằm, trải ra; nhánh non có lông. Lá mọc đối, hình trứng, có lông ít ở mặt trên, màu đỏ tía ở mặt dưới, dài 4-8cm, rộng 3-6cm, mép có răng và lông mi, cuống lá dài 1-2cm. Cụm hoa là bông ở ngọn hay ở nách lá, mọc đứng dài 3-5cm, mang 5 hàng hoa trắng (hay đỏ), có lá bắc xen kết hợp, tràng hoa cao khoảng 2cm; nhị 4. Quả nang.
Bộ phận dùng: Thân mang lá (Caulis Hemigraphitis).
Phân bố sinh thái: Loài nguồn gốc từ Indonesia (Java) trở thành hoang dại ở một số xứ nhiệt đới. Ta thường trồng làm cảnh ở các vườn cây và dọc bờ rào. Có thể thu hái thân lá quanh năm.
Thành phần hoá học: Có nhiều kalium.
Công dụng: Ở Tiểu Antilles, người ta dùng các thân mang lá, phối hợp với thân cành loài Rau càng cua  (Peperomia rotundifolia (L.) Kunth), để trị bệnh cúm. Cũng có nơi dùng chữa bệnh trĩ.

Thursday, 9 May 2013

Ắc ó-Acanthus integrifolius T. Anders, thuộc họ Ô rô (Acanthaceae)

Ắc ó

 
Tên khoa học: Acanthus integrifolius T. Anders, thuộc họ Ô rô (Acanthaceae).
Mô tả: Cây nhỏ cao 1-2m, thân tròn không lông. Lá mọc đối, phiến nguyên mỏng, bóng, xanh đậm; cuống 1cm. Hoa ở nách lá, to. màu trắng; dài do 5 lá dài hẹp, cao 1,5cm; tràng dài 8-10cm, môi dài hơn ống nhị 5. Quả nang 4 hạt.
Bộ phận dùng: Lá (Folium Acanthi)
Phân bố: Cây được trồng làm cảnh, vừa làm hàng rào ở nhiều nơi trong nước ta.
Thành phần hóa học: Có flavonoid, thành phần chính là Apigenin 7-O-β-glucosid.
Công dụng: Lá cây được dùng làm thuốc trị nhức mỏi, tê thấp.
Cách dùng: Ngày dùng 20-30g, dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.
Bài thuốc:
1.Chữa nhức mỏi tê thấp: Lá Ắc ó 20g, Sinh địa 20g, Hà thủ ô đỏ 20g, Cỏ xước 12g, Hy thiêm 12g, Cốt toái bổ 12g, Cốt khí củ 10g, Đẳng sâm 20g, Kê huyết đằng 12g, Thiên niên kiện 10g, Dây đau xương 10g. Sắc uống ngày 1 thang, dùng 7-10 thang.
2.Chữa tê thấp, đau nhức toàn thân: Lá Ắc ó, Rễ sâm cau, Hà thủ ô đỏ, Hy thiêm mỗi thứ 50g, các dược liệu thái nhỏ, ngâm với rượu trắng đủ ngập trong 7-10 ngày (ngâm càng lâu càng tốt), ngày uống 2 lần, mỗi lần 30ml. Uống liên tục 7-10 ngày.
3.Chữa tê thấp, đau lưng, nhức mỏi: Lá Ắc ó 20g, Cà gai leo 10g, Dây Gắm 10g, Thổ phục linh 10g, Kê huyết đằng 10g, Rễ lá lốt 10g. Sao vàng, sắc uống ngày 1 thang, dùng 10-20 thang.
4.Chữa tê thấp, đau nhức toàn thân: Lá Ắc ó, Ngũ gia bì, Ngưu tất, Tục đoạn, Đỗ trọng, Thiên niên kiện, Quế chi, Hà thủ ô đỏ, Thổ phụ linh, mỗi vị 20g, ngâm chung trong 2 lít rượu trắng, uống vào mỗi buổi tối, mỗi lần uống 30 ml.

Monday, 17 October 2011

CÂY XUÂN HOA

CÂY XUÂN HOA


Tên khác: Cây Hoàn ngọc, Cây con khỉ.
Tên khoa học: Pseuderanthemum palatiferum  (Nees) Radlk, họ Ô rô (Acanthaceae).
Mô tả: Cây có thể mọc cao từ 1-2m sống lâu năm, thân cây xanh màu tím lục, khi già chuyển thành màu nâu, phân ra nhiều nhánh, lá mọc đối diện có hình mũi mác, dài từ 12-15cm, rộng 3,5-5cm, nếp lá nguyên, cuống lá dài 1-2,5cm, cụm hoa dài 10-16cm. Hoa mọc ở kẽ lá hoặc ở đầu cành. Hoa lưỡng tính, không đều.
Bộ phận dùng: Lá.
Phân bố: Cây Xuân hoa mọc hoang ở nhiều nơi, được coi là cây thuốc quí có uy tín trong dân gian ở các tỉnh thành miền Bắc, nhất là thủ đô Hà Nội. Từ năm 1998, rộ lên việc trồng cây Xuân hoa để chữ những bệnh thuộc về nhóm bệnh đường tiêu hóa.
Tác dụng dược lý: Xuân hoa có tác dụng kháng khuẩn cho 2 loại gram (+) và gram  (-), kháng nấm mốc và kháng nấm men. Đặc biệt còn có tác dụng trên vi khuẩn Escherichia coli.
Thành phần hoá học : Acid hữu cơ, flavonoid, sterol, đường tự do, carotenoid, vết saponin và vết chất béo.
Công dụng: Chữa rối loạn tiêu hoá, điều trị chấn thương, chảy máu.
Cách dùng, liều lượng: Ngày 10-12g dùng riêng hay kết hợp với các dược liệu khác. Sử dụng dưới dạng nước sắc, ăn sống hay giã nát đắp lên các vết thương.
Chú ý: Có thời gian người ta dùng lá cây này như là một loại thuốc chữa bách bệnh.

Sunday, 25 September 2011

BẠCH HẠC

BẠCH HẠC
Radix Rhinacanthi

Cây Bạch hạc

Tên khác: Kiến cò, Nam uy linh tiên.
Tên khoa học: Rhinacanthus communis Nees., họ Ô rô (Acanthaceae). Cây mọc hoang và được trồng ở nước ta.
Mô tả: Cây nhỏ mọc thành bụi, cao 1-2m, có rễ chùm. Thân non có lông mịn. Lá mọc đối, có cuống, phiến hình trứng thuôn dài, mặt trên nhẵn, mặt dưới hơi có lông mịn. Hoa nhỏ, mọc thành xim nhiều hoa ở nách lá hoặc đầu cành hay ngọn thân. Hoa màu trắng nom như con hạc đang bay. Quả nang dài, có lông. Cây ra hoa tháng 8.
Phân bố: Cây mọc hoang, được trồng ở nhiều nơi. Trồng bằng gốc.
Thu hái: Rễ cũng được thu hái quanh năm, dùng tươi hay phơi khô.
Bộ phận dùng: Rễ (Radix Rhinacanthi).
Thành phần hoá học : Anthranoid (rhinacanthin).
Công năng: Chống ho, sát trùng, chống ngứa, trừ phong thấp.
Công dụng:
- Chữa huyết áp cao, trị phong thấp, nhức gân, tê bại. Ngày uống 10-15g dưới dạng thuốc sắc, dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác. Rễ có thể rửa sạch, bóc lấy vỏ phơi khô ngâm trong rượu, dấm để uống.
- Trị hắc lào (ngâm rễ với dầu hoả, xoa lên vết hắc lào).
Bài thuốc:
1. Lao phổi: Thân và lá Bạch hạc 20g, sắc nước, cho thêm đường uống.
2. Eczema, hắc lào: Giã một lượng vừa đủ cây lá tươi thêm cồn 70o ngâm và dùng ngoài. Có thể dùng rễ tươi giã nhỏ, ngâm rượu hoặc giấm trong một tuần lễ lấy nước bôi.