Showing posts with label Fabaceae. Show all posts
Showing posts with label Fabaceae. Show all posts

Friday, 14 November 2014

HÒE LÔNG-Sophora tomentosa

HÒE LÔNG


Tên khác: Cây chuỗi hột.
Tên khoa học: Sophora tomentosa Linnaeus; thuộc họ Đậu (Fabaceae).
Đặc điểm thực vật (Mô tả): Cây nhỏ cao 2-4m, có thân thẳng, màu trăng trắng. Lá kép lông chim lẻ, có 11-15 đôi lá chét, mặt trên màu nhạt bóng, mặt dưới có lông tơ mềm và trắng. Hoa màu vàng xám, xếp thành chùm dày, dài 10-20cm ở ngọn, dựng đứng và dày đặc. Quả hình tràng hạt, có lông mềm; hạt hình cầu, màu vàng, dài 7mm. Cây ra hoa tháng 12-1, quả tháng 3-4
Bộ phận dùng: Hạt và rễ. Lá cũng có thể dùng được (Semen, Radix et Folium Sophorae Tomentosae).
Phân bố sinh thái: Cây phân bố rộng rãi ở các vùng ven bờ biển của Việt Nam, Campuchia, Ấn Độ, Philippin. Ở nước ta, Hòe lông phân bố trên các bãi cát ở các đảo từ Quảng Ninh đến tận Vũng Tàu - Côn Đảo (Côn Đảo) và Kiên Giang (Phú Quốc).
Thành phần hóa học: Rễ và hạt chứa alkaloid lỏng bay hơi, sophorine tương đồng với cytisin; các alkaloid khác là matrin, methylcytisin, cytisin và một base chưa xác định.
Tính vị, tác dụng: Hạt có vị rất đắng; vỏ rễ cũng đắng, có tác dụng làm se. Ở Ấn Độ, rễ và hạt được xem là đặc hiệu trong các bệnh về mật.
Công dụng, cách dùng: Hạt và rễ dùng trị ỉa chảy và thổ tả. Ở Malaysia, người ta dùng trị ỉa chảy vì bị ngộ độc gây ra do ăn phải cá độc.

Liều dùng: Ngày 3 hạt trong các trường hợp thông thường, và 7 hạt khi bị thổ tả, giã ra ngâm trong nước để uống. Với liều này sẽ ngưng nôn mửa.

HÒE BẮC BỘ-Sophora tonkinensis

HÒE BẮC BỘ


Tên khác: Sơn đậu.
Tên khoa học: Sophora tonkinensis Gagnepain; thuộc họ Đậu (Fabaceae).
Tên đồng nghĩa: Sophora supbprostrata Chun et T. Chen
Đặc điểm thực vật (Mô tả): Cây bụi, cao 1-2m, có thân hình trụ, có lông mềm. Lá mọc so le có trục dài 10-15cm; lá chét 1-15, mọc đối, dày, dài, thuôn hay bầu dục, dài 3-4cm, rộng 1-2cm, tròn ở gốc, tù ở chóp, nhẵn, óng ánh ở mặt trên, có lông ở mặt dưới, gân bên 7-8 cặp, cuống lá dài 8-12cm. Cụm hoa ở nách lá thành chùm hay chuỳ, dài 8 - 13cm, có lông mềm; cuống hoa mảnh; lá bắc dễ rụng; đài hình chuông có lông ở ngoài; tràng hoa màu vàng dài 10-12mm; cánh hoa có móng ngắn; nhị hơi dính nhau ở gốc, bầu có lông, 4 ô. Quả có lông, dài 3,5-4cm rộng 0,8cm, tự mở. Hạt 1-3, dạng trứng màu đen, bóng.
Bộ phận dùng: Rễ (Radix Sophorae Tonkinensis) thường có tên là Quảng đậu căn cũng có tên là Sơn dậu căn.
Phân bố sinh thái: Loài nguồn gốc từ Trung Quốc và Bắc Việt Nam. Thường mọc trong các núi đá voi và trên sườn dốc các đồi. Ở nước ta, cây phân bố từ Quảng Ninh, Ninh Bình tới Quảng Nam - Đà Nẵng.
Thành phần hóa học: Trong rễ cây có matrin, oxymatrin, N-methylcytisin, anagyrin, sophoranon, sophoranochromen, sophoradin, ptereocarpin, maackiain.
Tính vị, tác dụng: Hoè Bắc bộ có vị đắng, tính lạnh; có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu thũng chỉ thống.
Công dụng, cách dùng: Dùng chữa sưng họng, sưng mộng răng. Ở Trung Quốc, có nơi, người ta dùng rễ cây này chữa ung thư, cho rằng nó có khả năng ức chế sự phân liệt của tế bào ung thư.
Liều dùng: Ngày 4-12g, sắc uống riêng hay phối hợp với các vị khác.
Bài thuốc: Chữa sưng họng và sưng chân răng do phế vị hoả bốc xông lên: Hoè Bắc bộ, Cương tàm (Tằm chết gió), Chi tử, đều 12g, Huyền sâm, Cát cánh, cam thảo dây, đều 8g, Bạc hà, Kinh giới, đều 6g, sắc uống.

Thursday, 13 November 2014

HÒE-Sophora japonica

HÒE


Tên khác: Hòe hoa, Hòe mễ, Lài luồng (Tày).
Tên khoa học: Sophora japonica Linnaeus; thuộc họ Đậu (Fabaceae).
Tên đông nghĩa: Anagyris chinensis Sprengel; Macrotropis foetida Can­dolle; Ormosia esquirolii H. Léveillé; Pongamia chinensis Can­dolle; Robinia mitis Loureiro (1790), not Linnaeus (1763); Sophora angustifoliolaQ. Q. Liu & H. Y. Ye ["angustifiola"]; S. japonica f. columnaris Schwerin; S. japonica f. hybrida Carrière; S. japonica f. oligophylla Franchet; S. japonica f. pendula Loudon; S. japonica var. praecox Schwerin; S. japonica var. pubescens (Tausch) Bosse; S. japonica f. variegata Nichols; S. japonica var. vestita Rehder; S. japonica var. violacea Carrière; S. maireiH. Léveillé (1915), not Pampanini (1910); S. pubescens Tausch; S. sinensisForrest; S. vaniotii H. Léveillé; Styphnolobium japonicum (Linnaeus) Schott.
Đặc điểm thực vật (Mô tả): Cây nhỡ cao 5-6m, thân cành nhẵn, màu lục nhạt, có những chấm trắng. Lá kép lông chim lẻ, mọc so le, gồm 11-17 lá chét mọc đối, hình bầu dục thuôn, dài 30-45mm, rộng 12-20mm, mặt dưới hơi có lông, hoa nhỏ, màu trắng hay vằn lục nhạt, mọc thành chùm ở đầu cành. Quả đậu thắt eo ở khoảng giữa các hạt thành một chuỗi lúc khô thì nhăn nheo, màu đen nâu, chia 2-5 đốt chứa 2-5 hạt hình bầu dục, hơi dẹt, màu đen bóng. Mùa hoa tháng 5-8, mùa quả tháng 9-10. 
Bộ phận dùng: Nụ hoa (Flos Sophorae lmmaturus), thường gọi là Hoè mễ: Hoa hoè (Flos Sophorae), hay Hoè hoa; và quả Hoè (Fructus Sophorae), hay Hoè giác.
Phân bố sinh thái:Hoè được trồng từ lâu đời làm cây cảnh và cây thuốc ở nước ta, ở Nhật Bản, Trung Quốc (Hải Nam) và một số nơi khác ở Đông Nam Á. Ở nước ta, Hoè được phát triển trồng nhiều ở Thái Bình, Hà Bắc, Nam Hà, Hải Phòng, Hải Hưng, Nghệ An và gần đây ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên.
Trồng trọt, thu hái, chế biến: Người ta trồng Hoè bằng hạt hoặc giâm cành vào mùa xuân. Sau 3-4 năm bắt đầu thu hoạch, cây càng sống lâu càng cho nhiều hoa. Hái hoa lúc còn nụ, phơi hay sấy khô; dùng sống hay sao hơi vàng để pha nước uống, hoặc cho vào nồi đất đun to lửa, sao cháy tồn tính (80%) để cầm máu. Quả hái vào tháng 9-11, rửa sạch, đồ mềm, phơi hay sấy khô; dùng sống hay có thể sao qua. Khi dùng giã giập.
Thành phần hóa học:Nụ hoa Hoè chứa rutin, có thể đạt tới 34%. Còn có bertulin, sophoradiol, sophorin A, sophorin B và sophorin C. Vỏ quả chứa 10,5% flavonoid toàn phần và một số dẫn xuất như genistein, sophoricosid, sophorabiosid, kaempferol, glucosid C, rutin 4,3%. Hạt Hoè chứa 1,75% flavonoid trong đó có rutin 0,5%, một số alcaloid, cytisin, N-methyl cytisin, sophocarmin, matrin. Ngoài ra còn có 8-24% chất béo và galactomanan.
Tính vị, tác dụng:Nụ hoa Hoè có vị đắng nhạt, mùi thơm, tính bình; quả Hoè có vị đắng, tính mát, đều có tác dụng hạ nhiệt, mát huyết, cầm máu, sáng mắt, bổ não. Ngày nay ta biết được các tác dụng làm giảm tính thẩm thấu của các mao quản, tác dụng kháng chiếu xạ, tác dụng hạ huyết áp. Hoa Hoè có tác dụng lương huyết, chỉ huyết.
Công dụng, cách dùng:Nụ hoa sao đem chữa xuất huyết, cháy máu cam, ho ra máu, băng huyết, trĩ cháy máu, xích bạch lỵ. Nụ hoa dùng uống chữa đau mắt, cao huyết áp, phòng ngừa đứt mạch máu não.
Liều dùng: Ngày dùng 8-10g, dạng thuốc hãm hoặc sắc, hoặc dùng 0,5-3g dạng bột hoặc viên. Quả sao tồn tính chữa đại tiện ra máu. Ngày dùng 6-12g dạng thuốc hãm hay sắc.
Bài thuốc:
1. Chữa các loại xuất huyết, đi lỵ ra máu, bệnh trĩ, đi ngoài ra máu: dùng hoa Hoè (sao qua) 10-15g, hoặc dùng quả Hoè 8-12g sắc uống hoặc dùng hoa hoè sao đen 20g, Địa du sao đen 10g, Diếp cá 12g, nước 300ml, sắc còn 200ml.
2. Chữa trĩ bị sưng đau: Quả Hoè phối hợp với Khổ sâm, lượng bằng nhau, nghiền thành bột hoà với nước bôi ngoài.
3. Chữa người có huyết áp cao, đầu choáng váng, ngón tay hơi tê, đầu óc căng thẳng, thần kinh suy nhược, mắt đau sợ chói, khó ngủ: Hoè hoa sao, hạt Muỗng sao, hai loại bằng nhau, tán bột, mỗi lần uống 5g, ngày dùng 10-20g; hoặc dùng riêng mỗi vị 10g hãm uống thay chè.
4. Chữa sốt xuất huyết khi sốt đã lui mà còn xuất huyết nhẹ, chảy máu dưới da, hay trẻ em thường đổ máu mũi, chảy máu chân răng; trằn trọc khó ngủ: Cũng dùng Hoè hoa sao và hạt Muồng sao, tán bột, ngày dùng 10-20g; hoặc sắc 10g quả Hoè uống.

HỒ CHI-Lespedeza juncea

HỒ CHI


Tên khác: Lẳng le.
Tên khoa học: Lespedeza juncea var. sericea (Thunb.) Lace & Hauech; thuộc họ Đậu (Fabaceae).
Tên đồng nghĩa: Aspalathus cuneata (Dum. Cours.) D. Don; Hedysarum sericeum Thunb.; Lespedeza cuneata (Dum.Cours.) G.Don; Lespedeza sericea Benth.
Đặc điểm thực vật (Mô tả): Cây bụi mọc đứng cao 30-100cm, cành dài và mảnh, hơi có góc. Lá kép do 3 lá chét, dạng chót buồm, dài 10-30cm, rộng 2-5cm, cụt đầu và có mũi lồi ngắn ở đỉnh, thu hẹp lại tới gốc, mặt trên nhẵn, mặt dưới có lông mềm màu tro; lá kèm hình mũi dùi. Hoa 1-2 (-6) cái ở nách lá, lá đài có 1 gân to, 2-3 gân nhỏ; cánh hoa màu hồng. Quả hình thấu kính, có vân nhăn nheo, khi già thì nhẵn, chứa 1 hạt. Cây ra hoa từ tháng 4-12
Bộ phận dùng: Rễ và toàn cây (Radix et Herba Lespedezae Junceae).
Phân bố sinh thái:Cây mọc trong các savan cỏ, các bãi cỏ, đất trống từ Lạng Sơn, Hà Bắc, Hoà Bình, Hà Nội, Ninh Bình tới tận Komtum.
Thu hái: Rễ và cây vào mùa hè, thu, rửa sạch, thái nhỏ, dùng tươi hay phơi khô dùng dần.
Tính vị, tác dụng:Vị ngọt và đắng, tính bình, có tác dụng ích can minh mục, hoạt huyết thanh nhiệt, lợi niệu giải độc, tiêu viêm lợi tiểu, kích thích tiêu hoá, giảm ho, làm long đờm.
Công dụng: Thường được dùng chữa: 1. Trẻ em ăn uống kém và suy dinh dưỡng, viêm miệng; 2. Viêm dạ dày ruột, lỵ trực trùng; 3. Viêm phế quản mạn tính; 4. Viên gan hoàng đản; 5. Viêm thận phù thũng, bạch đới.
Liều dùng, cách dùng: Ngày 15-20g, dạng thuốc sắc. Dùng ngoài trị nhọt đầu đinh, bệnh nổi đơn, bệnh mụn rộp, cụm nhọt, rắn cắn; giã cây tươi đắp ngoài. Nhân dân ta cũng thường dùng cây chữa quáng gà, sốt rét, cam trẻ em (Cao Bằng); cũng dùng cây chữa bướu cổ (Lai Châu). Còn được sử dụng làm cây phân xanh và thức ăn gia súc.

Monday, 10 November 2014

HOÀNG KỲ-Astragalus membranaceus

HOÀNG KỲ


Tên khoa học: Astragalus membranaceus (Fisch.) Bunge; thuộc họ Đậu (Fabaceae).
Đặc điểm thực vật: Cây thảo sống lâu năm, phân nhánh nhiều, cao khoảng 50-70cm. Rễ hình trụ, đường kính 1-2cm, dài và đâm sâu, dai, khó bẻ, vỏ ngoài màu nâu đỏ hay vàng nâu. Lá kép lông chim lẻ, mọc so le gồm 15-25 lá chét hình trứng dài, có lông trắng mịn ở mặt dưới. Cụm hoa chùm ở nách lá, dài hơn lá, mang 5-20 hoa màu vàng tươi. Quả đậu dẹt, đầu thuôn dài thành mũi nhọn, mặt ngoài có lông ngắn; hạt hình thận màu đen. Còn có một thứ (var. mongholicus (Bge) Hoicus) gọi là Hoàng kỳ Mông cổ cũng giống như trên, nhưng có số lá chét ít hơn (12-18) và nhỏ hơn cũng được sử dụng. Mùa hoa tháng 6-7, mùa quả tháng 7-9. 
Bộ phận dùng: Rễ củ (Radix Astragali); thường gọi là Hoàng kỳ.
Phân bố sinh thái:Cây của Trung Quốc được nhập trồng, mọc được ở nước ta, đang được nghiên cứu để phát triển.
Thu hái: Thu hái rễ của những cây 5-6 tuổi (ít nhất phải sau 3 năm trồng mới cho củ) vào mùa thu, mang về rửa sạch, cắt bỏ đầu rễ và rễ con, phơi hay sấy khô.
Thành phần hóa học:Củ Hoàng kỳ chứa saccharose, glucose, tinh bột, chất nhầy, gôm; còn có cholin, betain, nhiều loại acid amin, calycosin, astragaloside I-V, III.
Tính vị, tác dụng:Hoàng kỳ có vị ngọt, tính hơi ấm, có tác dụng giải độc, lợi tiểu tiện, tiêu thũng, bổ khí, liễm hầu.
Công dụng, cách dùng:Dùng sống chữa bệnh đái đường, đái đục, buốt, lở loét, phù thũng, phong thấp, trúng phong, bán thân bất toại. Tẩm mật sao dùng bổ khí thăng dương, làm hưng phấn, tăng lực.
Liều dùng: Ngày dùng 6-12g hay hơn, dạng thuốc sắc.
Bài thuốc:
2. Chữa cơ thể suy nhược, không muốn hoạt động, thích nằm, biếng nói, ngắn hơi, thở yếu, kém ăn, người xanh bủng, rù mỏi hay bệnh lòi dom do ỉa chảy lâu ngày, sa dạ con, sa dạ dày: Dùng Hoàng kỳ (tẩm mật sao), Đẳng sâm đều 10g, Bạch truật, Đương quy đều 8g, Thăng ma, Sài hồ, Trần bì, Cam thảo đều 4g sắc uống.
1. Chữa phù thũng, phong thấp: Hoàng kỳ 5g, Cam thảo 2g, Phòng kỷ 5g, Quế chi 3g, Phục linh 6g, nước 300ml, sắc còn 100ml, uống trong ngày.
Ghi chú: Đối với người âm hư, máu nóng gầy khô, hay bốc hoả, ù tai, chóng mặt, nhức đầu, đường huyết cao hay huyết áp cao, cùng các bệnh ôn nhiệt, xuất huyết, viêm não, các loại sưng viêm đều cấm dùng.

Thursday, 6 November 2014

HÀN THE CÂY-Dicerma biarticulatum-Tràng quả hai đốt

HÀN THE CÂY


Tên khác: Tràng quả hai đốt.
Tên khoa học: Dicerma biarticulatum (L.) DC.; thuộc họ Đậu (Fabaceae).
Tên đồng nghĩa: Desmodium biarticulatum (L.) F.Muell.
Mô tả: Cây thảo mọc đứng cao 0,30-0,70cm, cứng, màu xám đen, có lông mềm nằm. Lá kép nhỏ do 3 lá chét có lông nằm ở mặt dưới; lá kèm dính nhau, màu nâu nhạt, chia 3-4 phiến ở đỉnh. Chùm hoa đứng, cao 2-9cm, hoa nhỏ. Quả đậu mọc đứng, gồm 2 đốt, có lông vàng, màu xám tro.
Bộ phận dùng:Toàn cây (Herba Dicermae).
Phân bố sinh thái:Loài phân bố ở Ấn Độ, Lào, Campuchia, Việt Nam, cho tới nước Úc. Ở nước ta, thường gặp trên các đồi cát dựa biển Bà Rịa và cũng gặp ở trong đất liền.
Thu hái: Cây quanh năm, thường dùng tươi.
Công dụng, cách dùng:Chữa bệnh về phổi (ho phổi, phổi có mủ): 1. Nếu ho hàn (lạnh phổi, ho về đêm), dùng Hàn the cây. Trắc bá diệp, Vân lương, Ngải cứu, Trần bì, Gừng, Thuốc giòi, mỗi thứ một nắm sắc uống. 2. Nếu ho nhiệt, ban ngày ho nhiều, đêm ho ít, thì dùng công thức trên, và thêm một số vị thuốc mát như Dây bình bát, Cây ngái, Dây cóc kèn (Mồng gà) và Bồ bồ (để sống), đồng vị, sắc uống. (Kinh nghiệm ở An Giang).
www.duoclieu.org

Tuesday, 4 November 2014

HÀN THE BA HOA-Desmodium triflorum-cây thuốc chữa viêm tiết niệu

HÀN THE BA HOA


Tên khoa học: Desmodium triflorum (L.) DC.; thuộc họ Đậu (Fabaceae).
Mô tả: Cây thảo cứng có gốc hoá mộc. Thân phân cành nhiều, cành non mảnh, dạng sợi, có lông trắng. Lá có 3 lá chét, nhỏ; phiến lá chét hình xoan ngược, gốc tù, lúc non có lông trăng trắng; lá kèm hình trái xoan nhọn, có nhiều vằn. Hoa xếp 2-3 cái ở nách, không cuống, lá bắc dạng lá kèm, cuống dài 5-7mm, đài không lông, tràng hoa màu xanh lơ hay tím, cao 6-7mm. Quả hơi cong hình cung dài 1,5cm, rộng 2-3mm, chia 3-5 đốt, hơi có lông. Cây ra ha kết quả quanh năm, thường thấy vào mùa hè, thu.
Bộ phận dùng:Toàn cây (Herba Desmodii Triflori).
Phân bố sinh thái:Loài liên nhiệt đới, cây thường gặp ở sân cỏ, dọc đường đi, vùng đồng bằng khắp nước ta.
Tính vị, tác dụng:Vị đắng, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp, điều kinh chỉ thống. Lá lợi sữa, cầm ỉa chảy và lỵ, tiêu viêm tiêu sưng.
Công dụng, cách dùng:Cây thường dùng làm thuốc chữa cảm nắng, bụng to, da vàng.
Ở Trung Quốc, cây được dùng chữa sưng vú, phát sốt phát rét, ăn uống không tiêu, rắn cắn; hoàng đản, kiết lỵ, viêm ruột, kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh.
Ở Campuchia, phần thân mang lá dùng phối hợp với các vị khác sắc nước cho phụ nữ sinh đẻ uống để tăng lực.
Ở Ấn Độ, lá được dùng trị ỉa chảy, lỵ và co giật. Lá tươi giã đắp vết thương và apxe.
www.duoclieu.org

HÀN THE-Desmodium heterophyllum-Sơn lục đậu

HÀN THE


Tên khác: Sơn lục đậu.
Tên khoa học: Desmodium heterophyllum (Willd.) DC.; thuộc họ Đậu ().Fabaceae
Mô tả: Cây bụi thấp, mọc bò sát đất, phân cành từ gốc. Lá mọc so le, thường có 3 lá chét, các lá gần gốc thường chỉ có 1 lá chét; lá chét hình trái xoan ngược, gốc tù, chóp cụt lõm, mặt trên xanh sẫm, mặt dưới nhạt màu có lông. Cụm hoa rất ngắn mọc ở nách lá, gồm ít hoa, không cuống, màu tím hồng. Quả nhỏ, thuôn, có 4-5 ngăn, mỗi ngăn chứa 1 hạt.
Bộ phận dùng:Toàn cây (Herba Desmodii Heterophylli).
Phân bố sinh thái:Cây của vùng Ấn Độ - Malaysia, mọc hoang ở các bãi cỏ ven đường.
Thu hái: Có thể thu hái toàn cây quanh năm, dùng tươi hay phơi khô.
Tính vị, tác dụng:Hàn the có vị hơi chua chát, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt hạ sốt, tiêu sưng, tiêu viêm, cầm máu. Rễ làm thông hơi, bổ, lợi tiểu. Lá lợi sữa.
Công dụng, cách dùng:Thường dùng chữa các chứng lậu ra máu, đái buốt, bí tiểu tiện do cơ thể bị nhiệt quá, dùng giải nhiệt, chữa sốt và ho khò khè, đau dạ dày, viêm loét hành tá tràng. Còn dùng chữa kiết lỵ và băng huyết sau khi đẻ.
Liều dùng: Ngày dùng 8 - 16g sắc uống hoặc hãm uống. Thường phối hợp với các vị thuốc khác. Dùng ngoài, giã nát đắp bó gãy xương, chữa vết thương lở loét, rò, mụn mủ, bướu.
Bài thuốc: Chữa các chứng lậu ra máu, đái buốt: Dùng cây Hàn the và củ Gai giã nhỏ, chế nước, vắt lấy nước cốt uống. Hoặc dùng 2 thứ bằng nhau mỗi vị một nắm, sắc uống.
www.duoclieu.org

Monday, 3 November 2014

HÀM XÌ-Flemingia macrophylla-Niễng cái, Tóp mỡ lá to

HÀM XÌ

Tên khác: Niễng cái, Tóp mỡ lá to.
Tên khoa học: Flemingia macrophylla (Willd.) Merr.; thuộc họ Đậu (Fabaceae).
Tên đồng nghĩa: Moghania macrophylla (Willd.) Kuntze
Mô tả: Cây nhỏ cao 1-2m, thân tròn ở gốc, có 3 cạnh ở trên, các phần non có lông hoe dầy. Lá kép có 3 lá chét hình mũi mác, dài 10-14cm, bởi có lông mịn trên các đường gân ở cả hai mặt lá; lá kèm dài 15mm. Cụm hoa chùm dày, có lông vàng; lá bắc 9mm; hoa đỏ hay tím, dài 7-8mm. Quả dài 10-15mm, có ít lông; hạt đen, hình cầu 2mm. Cây ra hoa kết quả từ tháng 5-10.
Bộ phận dùng: Rễ, lá (Radix et Folium Flemingiae).
Phân bố sinh thái:Cây mọc trên đồng cỏ, savan già, rừng thưa ở nhiều nơi khắp nước ta từ Lạng Sơn đến thành phố Hồ Chí Minh. Rễ thu hái quanh năm, rửa sạch, thái phiến, phơi khô dùng. Lá thu hái quanh năm, dùng tươi.
Thành phần hóa học:Có flemingin, flemingin vô định hình và homoflemingin.
Tính vị, tác dụng:Rễ có vị ngọt, nhạt, chát, tính bình; có tác dụng khư phong hoạt huyết, thư cân hoạt lạc. Lá có tác dụng tiêu viêm.
Công dụng, cách dùng:
Dùng lá giã đắp chữa sưng tấy, lở loét; dùng ngoài không kể liều lượng. Rễ dùng ngâm rượu hoặc sắc uống chữa tê thấp; ngày dùng 10-15g.
Ở Ấn Độ, rễ được dùng đắp ngoài làm thuốc tiêu sưng, chủ yếu là ở cổ.
Ở Trung Quốc, Hàm xì dùng chữa: 1. Thấp khớp đau nhức xương, đau lưng; 2. Sưng phù tay chân; 3. Ho mạn tính; 4. Đòn ngã tổn thương. Ngày dùng 30-60g, dạng thuốc sắc.

Saturday, 1 November 2014

GÕ NƯỚC-Intsia bijuga-Bần ôi

GÕ NƯỚC


Tên khác: Bần ôi.
Tên khoa học: Intsia bijuga (Colebr.) Kuntze; thuộc họ Ðậu (Fabaceae).
Tên đồng nghĩa: Afzelia bijuga A.Gray
Mô tả: Cây gỗ cao tới 40m, có bạnh vè 2x 2m. Vỏ xám, nhánh nhẵn. Lá kép lông chim chẵn, dài 7-16cm, có 2-4 lá chét mọc đối hay gần mọc đối, hình bầu dục rộng, tròn ở 2 đầu, dai, lượn sóng ở mép, dài 8-15cm, rộng 5-10cm. Hoa xám hay trăng trắng, thành ngù nhiều chùm. Quả đậu dai, mỏng, dày ở mép, nhẵn, dài 15-20cm, rộng 5cm. Hạt hình mắt chim, đường kính 25mm, màu nâu, bao bởi nạc. Cây ra hoa tháng 2-5, quả tháng 5-10.
Bộ phận dùng: Quả (Fructus Intsiae).
Phân bố sinh thái:Loài này phân bố dọc theo các bờ biển của Ấn Độ dương và Thái Bình Dương, từ Madagasacar tới Polynêdi, trong các rừng lầy, rừng ẩm, ở sau rừng sác, trên các đảo san hồ, tới độ cao 600m. Ở nước ta, chỉ gặp ở Sông Bé, thành phố Hồ Chí Minh, Côn Ðảo và đảo Phú Quốc.
Công dụng, cách dùng:Quả có vị chua, ăn được, có tác dụng nhuận tràng. Gỗ tốt dùng làm đồ mỹ nghệ, dùng trong xây dựng, làm cột điện.

GÕ MẬT-Sindora siamensis-cây thuốc chữa ỉa chảy, lỵ

GÕ MẬT


Tên khác: Gõ đen.
Tên khoa học:  Sindora siamensis var. maritima (Pierre) K.Larsen & S.S.Larsen; thuộc họ Ðậu (Fabaceae).
Tên đồng nghĩa: Sindora cochinchinensis var. maritima (Pierre) de Wit
Mô tả: Cây gỗ cao 30-35m. Lá kép lông chim chẵn, có 2-4 đôi lá chét mọc đối, hình trái xoan, tù ở gốc, tròn hay lõm ở chóp, dai, mặt trên có ít lông, mặt dưới có nhiều lông, dài 5-10cm, rộng 25-55mm, có gân lồi lên ở mặt dưới. Hoa thành chuỳ ở ngọn hay thành chùm ở nách lá. Quả đậu hình mắt chim, đường kính 6cm, phẳng, phủ nhiều gai nhọn, thẳng, dài 3-5mm. Hạt đơn độc, dài 10-12mm, rộng 10-11mm, có một cán noãn dài 15-18mm, rộng 18mm. Hình nón ngược. cây ra hoa tháng 3-6, quả tháng 6-2.
Bộ phận dùng: Vỏ cây (Cortex Sindorae Siamensis).
Phân bố sinh thái:Thứ này phân bố ở các vùng thấp của Thái Lan, Campuchia, Nam Việt Nam; ít gặp hơn ở Lào và bán đảo Malaysia. Ở nước ta, cây mọc thông thường trong rừng thưa cây họ dầu và trong rừng đã khai thác, thường không lên quá 500m ở Ðắc Lắc, Ninh Thuận và Sông Bé.
Tính vị, tác dụng:Vỏ đắng chát, làm săn da.
Công dụng, cách dùng:Gỗ rất tốt dùng trong xây dựng, làm chày giã gạo. Vỏ dùng nhuộm lưới đánh cá. Quả dùng ăn với trầu. Ở Campuchia, vỏ được dùng phối hợp với nhiều vị thuốc khác trị ỉa chảy và lỵ. Còn dùng trị viêm phế quản. Người ta lấy một nắm vỏ cùng với một mảnh nhựa cánh kiến to bằng đầu ngón tay, đem nấu sôi với 1 lít nước uống nhiều lần trong ngày.

Friday, 31 October 2014

GÕ ĐỎ-Gõ cà te-Afzelia xylocarpa-cây chữa đau răng

GÕ ĐỎ


Tên khác: Gõ cà te.
Tên khoa học: Afzelia xylocarpa (Kurz) Craib; thuộc họ Ðậu (Fabaceae).
Tên đồng nghĩa: Pahudia cochinchinensis Pierre
Mô tả: Cây gỗ cao tới 20-30m, vỏ nhẵn, ánh bạc; gỗ nâu vàng. Lá do 3-5 cặp lá chét hình trái xoan, nhọn, không cân ở gốc nhẵn, màu mốc ở dưới, dài 5-6cm, rộng 4-5 cm. Hoa xam xám thành cụm hoa dài 10-12cm, có lớp lông mềm xám, vượt qua lá. Quả đậu dày, tù, gần như không cuống, dài 15cm, rộng 6-9cm, dày 2-3cm, hoá gỗ cứng. Hạt 7-8, dạng trứng, dày 25-30mm, dày 18-24mm, có áo hạt màu da cam hình bốn góc tạo thành đấu cạn, dài khoảng 1,5cm. Cây ra hoa tháng 1-3, quả tháng 10-11.
Bộ phận dùng: Vỏ, hạt (Cortex et Semen Afzeliae Xylocapae).
Phân bố sinh thái:Loài giới hạn ở bán đảo Ðông Dương Mianma, Thái Lan, Campuchia, Lào, Nam Việt Nam. Ở nước ta, Gõ đỏ thường gặp trong các rừng hỗn giao rụng lá và rừng khô thường xanh, ở độ cao thấp, dưới 900m từ Khánh Hoà đến Ðồng Nai, Tây Ninh.
Tính vị, tác dụng:Hạt giải được các loại độc.
Công dụng, cách dùng: Gỗ tốt loại 1 dùng làm đồ mỹ nghệ, đồ gỗ trang trí và dùng trong xây dựng. Hạt non ăn được. Ở Campuchia, vỏ được dùng trong thú ý giúp ăn ngon và bổ đối với động vật nuôi, như ngựa. Ở Trung Quốc, người ta dùng hạt sắc nước xoa ngậm chữa đau răng.

GIỀNG GIỀNG ĐẸP-Huyết đằng lông-Butea superba

GIỀNG GIỀNG ĐẸP


Tên khác: Huyết đằng lông.
Tên khoa học: Butea superba Roxb.; thuộc họ Ðậu (Fabaceae).
Mô tả: Dây leo to, mủ đỏ. Lá chét 3, to hơn lá Giềng giềng, gốc tù hay tròn, mặt dưới có lông dày. Ngù hoa hẹp, có lông dày; cuống hoa dài bằng ba lần đài và có tiền diệp lâu rụng hơn; đài có răng nhọn; cánh hoa màu tía. Quả dẹp, có cánh to; hạt nâu đỏ.
Bộ phận dùng:Thân và lá (Caulis et Folium Buteae Superbae).
Phân bố sinh thái:Loài phân bố rộng từ Ấn Độ qua Mianma, Trung Quốc, các nước Ðông Dương tới Philippin và Indonesia. Ở nước ta, thường gặp trong các rừng thưa vùng đồng bằng.
Thành phần hoá học:Nhựa cây chứa gum-kino. Rễ chứa 2 glucosid; Hoa chứa những thành phần kết tinh như ở cây Giềng giềng (Butea monosperma(Lam.) Taub.) mà chủ yếu là butrin.
Tính vị, tác dụng:Thân và lá làm dịu, nói chung có những tính chất như cây Giềng giềng.
Công dụng, cách dùng:Ở Campuchia, người ta dùng thân, lá nấu nước tắm trong trường hợp bị bệnh trĩ. Chúng cũng có tính làm giảm đau nên cũng được dùng tắm và chà xát trên cơ thể người bị co giật. Ở Ấn Độ, dịch lá cùng với sữa đông và Nghệ dùng trong trường hợp nóng phát ban. Vỏ cây đen đen, dày 12-14mm, tiết dịch nhầy nhiều, nhất là vào mùa mưa, được dùng để nhuộm lưới câu.

GIÊNG GIỀNG-Cây lâm vố-Butea monosperma

GIÊNG GIỀNG


Tên khác:  Cây lâm vố.
Tên khoa học: Butea monosperma (Lam.) Taub.; thuộc họ Ðậu (Fabaceae).
Tên đồng nghĩa: Butea frondosa Roxb.
Mô tả: Cây gỗ cao 8-10m, có thân vặn và cành không đều. Lá to, kép lông chim lẻ; lá chét 10-20cm, không giống nhau. Lá chét cuối hình thoi-mắt chim, các lá chét bên không cân, hình trái xoan hay trái xoan ngược, tù, mặt dưới có nhiều lông mềm, dày đặc. Hoa màu da cam sáng chói, cong, có lông mềm, xếp thành chuỳ dài. Quả thuôn, tù ở hai đầu, hơi có lông mềm màu trắng, có vân mạng, mép quả dày. Hạt màu đỏ, hình bầu dục rộng, nhẵn và phẳng. Cây ra hoa tháng 6-10.
Bộ phận dùng: Nhựa, hạt và vỏ (Resina, Semen et Cortex Buleae).
Phân bố sinh thái:Loài phân bố ở Ấn Độ, Srilanka, các nước Ðông Dương đến Indonesia. Ở nước ta, cây mọc nhiều ở những chỗ trống vùng đồng bằng và trong các savan, trên đất sét cát ở độ cao tới 1500m, từ Quảng Trị đến Ðồng Nai. Có khi trồng vì cụm hoa đẹp.
Thành phần hoá học:Nhựa chích từ cây gồm gần phân nửa là gôm. Từ gôm cây đã tách được leucocynictin; còn có pyrocatechin, acid kinotannic và gôm. Lá và hoa đều chứa glucosid. Trong hạt có 3 alcaloid độc đối với giun đất; hạt chứa 18,97% một chất dầu màu vàng; hạt tươi chứa các men proteolytic và lipolytic. Hoa chứa 1,5% glucosid butrin 0,3% butein, 0,04% butin, 0,02% một glucosid và một heterosid.
Tính vị, tác dụng:Nhựa cây có màu đỏ, đông lại ngoài không khí, phồng lên trong nước lã và làm cho nước có màu đẹp. Nhựa này có vị se. Hạt có tính tẩy và trừ giun. Lá se, bổ. Hoa se, lợi tiểu, lọc máu và kích dục. Vỏ và hạt trị nọc độc.
Công dụng, cách dùng:
Ở Ấn Độ, hạt dùng thay thế santonin để trục giun. Gôm nhựa cây được dùng trị ỉa chảy và kiết lỵ. Vỏ cây và hạt dùng trị rắn độc.
Ở Campuchia, nhựa cây được dùng trị ỉa chảy của trẻ em và người lớn. Cũng dùng để băng bó các vết thương và vết loét bằng cách phối hợp với nhựa Dầu mè (Jatropha curcas L.) để tạo thành bột đắp lên vết thương và các mụn nhọt và viêm hạch. Người ta dùng lá Sa nhân (Amomum zerumbet L.) và giã ra với tỷ lệ 8 phần lá cây, 2 phần muối ăn và 1 phần nhựa Giềng giềng.

Thursday, 30 October 2014

GIÁNG HƯƠNG ẤN-Pterocarpus indicus-cây thuốc chữa ỉa chảy mạn tính

GIÁNG HƯƠNG ẤN

Tên khoa học: Pterocarpus indicus Willd., thuộc họ Ðậu (Fabaceae).
Mô tả: Cây gỗ lớn, cao 10-13m, nhánh sà. Lá dài 20-25cm, mang 5-9 lá chét mỏng hình trái xoan, dài 4,5-10cm, rộng 2,5-5cm, không lông. Chùm hoa ở nách lá có nhánh hay không; đài có lông, cánh cờ rộng 9mm. Quả dẹp, rộng 5cm, vòi nhuỵ ở ngang hột, chứa 3 hạt.
Bộ phận dùng: Nhựa (Resina Pterocarpi Indici).
Phân bố sinh thái:Cây của miền Nam Ðông Dương, bán đảo Malaysia, Java, Sumatra, mọc hoang ở rừng các tỉnh phía Nam.
Thành phần hoá học:Nhựa chích từ cây có màu đỏ, sẽ đông cứng sau vài giờ, không mùi, không vị, rất chát, thường được gọi là Kino. Nhựa kino chứa một tanin riêng biệt là acid kino-tannic và một chất màu đỏ. Nếu chưng cất khô, nó cho chất pyrocatechin và acid protocatechinic.
Tính vị, tác dụng:Nhựa của cây có tác dụng như chất chát và làm săn da. Vỏ quả gây nôn.
Công dụng, cách dùng:Dùng uống trong trường hợp ỉa chảy mạn tính, xuất huyết, bạch đới, lậu và dùng trám răng. Ở Malaysia, dùng chữa đau dạ dày, tim hồi hộp, thấp khớp, bạch đới, thường dùng phối hợp với những vị thuốc khác có mùi thơm để tăng hiệu lực. Ở Campuchia, nhựa cây dùng chế thuốc trị sốt rét, làm thuốc lợi tiểu và chống lỵ và còn dùng để trám răng.

GIÁNG HƯƠNG-Pterocarpus macrocarpus-cây thuốc điều kinh

GIÁNG HƯƠNG


Tên khác: Giáng hương quả to.
Tên khoa học: Pterocarpus macrocarpus Kurz; thuộc họ Ðậu (Fabaceae).
Mô tả: Cây gỗ cao 25-30cm. Lá kép lông chim; lá chét tới 13 mờ, có lông, màu tro ở mặt trên. Hoa thành chùm ở nách lá, dài 9cm hay hơn. Quả rộng 6-7cm, có răng nằm ở dưới các hạt tách với cuống quả bởi một đường thẳng 2cm. Gờ lồi gần như ở giữa, nối với cuống bởi một cạnh hơi gập vào. Quả tháng 1-2.
Bộ phận dùng: Nhựa và rễ cây (Resina et Radix Plerocarpi Macrocarpi).
Phân bố sinh thái:Loài phân bố từ Mianma tới Nam Việt Nam và Campuchia. Ở nước ta, cây thường gặp trong rừng thưa từ Ðắc Lắc, Khánh Hoà tới Ðồng Nai.
Công dụng, cách dùng:Ở Campuchia, rễ cây Giáng hương, phối hợp với những vị thuốc khác, dùng để điều kinh. Dịch đỏ chảy ra từ vỏ cây, nếu sấy khô sẽ cho một chất nhựa, được sử dụng để trám răng. Nhựa cây này cũng có thể dùng để nhuộm. Gỗ Giáng hương có màu nâu hồng mịn, đẹp và thơm, thường được dùng đóng gỗ quý.

Friday, 24 October 2014

ĐUÔI TRÂU-Albizia chinensis-cây thuốc nam

ĐUÔI TRÂU


Tên khác: Chu mè, Sống rắn Trung Quốc.
Tên khoa học: Albizia chinensis (Osbeck) Merr.; thuộc họ Đậu (Fabaceae).
Mô tả: Cây gỗ lớn cao 6m đến 30m; thân to đến hơn 1m; nhánh non có lông hoe. Lá kép lông chim 2 lần; lá kèm hình tim, cao 10-15mm; cuống chung dài 20cm; lá chét bậc hai (10-) 20-30 đôi, mọc đối, không cuống, dài 8-10mm, rộng 2-2,5mm, không cân xứng, hình thuôn mũi dùi, hơi có lông mềm trên cả hai mặt. Chuỳ hoa cao 10-20cm, có lông vàng, cuống hoa xếp thành bó 3-4 cái, thường có lá kèm có tai dài 1-3cm bao ở gốc, mang đầu hoa gồm 10-20 hoa không cuống. Quả đậu thuôn, dài 12-15cm, rộng 1,7-2cm, chứa 8-10 hạt hình bầu dục, nâu, dẹp, có kích thước 7x4,5x0,5-1mm. Cây ra hoa tháng 4.
Bộ phận dùng: Vỏ (Cortex Albiziae Chinensis)
Phân bố sinh thái:Loài của á châu nhiệt đới và á nhiệt đới: Ấn Độ, Xri lanca, Mianma, Trung Quốc, Thái Lan, Campuchia, Lào, Việt Nam và Indonesia (Java). Ở nước ta, cây thường mọc ở trong các rừng thường xanh và rụng lá, các savan, và dọc các bờ sông suối, giữa cao độ 200 và 1700m. Cũng có khi được trồng như cây che bóng trong các đồn điền cà phê và chè.
Thành phần hoá học:Có gôm, saponin.
Công dụng, cách dùng: Đồng bào dân tộc Dao dùng vỏ cây nấu nước gội đầu và dùng lớp vỏ nhớt nhai nuốt nước; lấy bã đắp chữa rắn cắn. Ở Ấn Độ, người ta dùng nước sắc của vỏ làm nước rửa vết cắt, ghẻ ngứa và bệnh ngoài da. Cây được dùng làm thuốc duốc cá.

ĐUÔI CHỒN TÓC-Uraria crinita-cây thuốc nam

ĐUÔI CHỒN TÓC


Tên khác: Đuôi chó.
Tên khoa học: Uraria crinita (L.) DC.; thuộc họ Đậu (Fabaceae).
Mô tả: Cây nhỏ cao tới 1,5m. Lá có 3-5 lá chét hình trái xoan dài, tròn ở gốc, nhọn dần lại và tù, có mũi cứng ở đầu, nhẵn, sáng bóng, thường có vân trắng ở mặt trên, nhạt màu và hơi có lông mềm ở mặt dưới. Hoa màu tim tím, xếp thành chùm ở ngọn, hình trụ, dạng bông, dài 15-20 cm, rộng 20-30mm. Quả đậu đen bóng, có 3-5 đốt, đường kính 3mm. Cây ra hoa vào tháng 7-9.
Bộ phận dùng:Toàn cây (Herba Urariae Crinitae).
Phân bố: Cây của vùng Viễn Đông. Khá phổ biến khắp nước ta, thường thấy trong các thảm cỏ cây bụi khô, rừng tre từ Lào Cai đến Lâm Đồng; Vũng Tàu cho tới Tây Ninh.
Thu hái: Toàn cây vào mùa hè thu, rửa sạch, dùng tươi hay phơi khô.
Tính vị, tác dụng:Vị ngọt dịu, tính mát; có tác dụng tiêu viêm, cầm máu, sát trùng.
Công dụng, cách dùng:Lá có thể dùng làm rau ăn. Cây được dùng chữa: 1. Cảm lạnh, ho; 2. Bệnh giun chỉ và sốt rét; 3. Trẻ em biếng ăn và suy dinh dưỡng; 4. Nôn ra máu, ho ra máu, đi tiểu ra máu và các vết thương chảy máu.
Liều dùng: Ngày 30-50g, dạng thuốc sắc. Phụ nữ có thai kiêng dùng.
Ở Malaysia và Ấn Độ, rễ sắc nước uống dùng trị ỉa chảy. Cũng được sử dụng để trục giun và dùng cho trẻ em bị đầy hơi và phụ nữ sau khi sinh. Ở Inđônêxia, người ta dùng toàn cây chữa lỵ, ỉa chảy, lá lách sưng to, đau gan, rò, mụn mủ, bướu. Ở Ấn Độ, lá giã ra dùng ngoài đắp vào người khi bị sưng lách, sưng gan; hoa được dùng làm chế phẩm trị mụn xuất hiện sau bệnh đậu mùa.
Dân gian thường dùng, lá, hoa, rễ giã đắp mụn nhọt. Có tác giả cho là có thể trị tê thấp, bệnh về phổi.

ĐUÔI CHỒN NAM BỘ-Uraria cochinchinensis-cây thuốc nam

ĐUÔI CHỒN NAM BỘ


Tên khoa học: Uraria cochinchinensis Schindl.; thuộc họ Đậu (Fabaceae).
Mô tả: Cây dưới bụi cao 0,6-1m, thân có lông phún vàng vàng. Lá chét 1, mỏng, có lông, hình tim, dài 7-11cm, rộng 5-8cm, hình tim ở gốc, nhọn sắc ở đầu, có lông lún phún ở cả hai mặt, gân bên 8-10 đôi; cuống 3-7cm, cuống nhỏ 2-4mm; lá kèm hình dùi, dễ rụng. Cụm hoa chùm ngắn, 10-15cm, ít rậm, phân nhánh, rồi thưa, phủ lông trắng; hoa nhỏ khó thấy trong cả cụm hoa lởm chởm; cuống hoa 2mm, về sau dài tới 2cm trên quả; lá bắc mau rụng; đài hình chuông, có lông mi; tràng hoa vàng vàng; bầu có 3-5 noãn. Quả có 3-5 đốt hình mắt chim, hơi có lông mềm, màu nâu, đốt hình khiên, hạt hình tim, 2,5mm.
Bộ phận dùng:Toàn cây (Herba Urariae Cochinchinensis)
Phân bố sinh thái:Loài gặp ở Campuchia, Lào và Việt Nam. Ở nước ta, cây mọc trên đất có đá, trong các rừng thông tới độ cao 500m, từ Ninh Thận (Cà Ná) tới Bà Rịa (Núi Dinh).
Công dụng, cách dùng:Ở Ninh Thuận, người ta sử dụng cây này trong y học dân gian, được xem như có tác dụng lọc máu.

ĐUÔI CHỒN MÀU-Uraria picta-cây thuốc nam

ĐUÔI CHỒN MÀU


Tên khoa học: Uraria picta (Jacq.) DC.; thuộc họ Đậu (Fabaceae).
Mô tả: Cây dưới bụi, mọc đứng, 1-2m, có thân đơn, ít phân nhánh, có lông ngắn, lá có 5-7 lá chét hình dải, dài 7-15cm, rộng 0,7-2cm, cứng, dai, tròn ở gốc, thon hẹp tù ở đầu, mặt trên xám nhạt có đốm trắng, mặt dưới nhạt và có lông mềm; cuống lá có lông, lá kèm 10mm, hình tam giác rộng, tận cùng thành mũi dùi; lá kèm nhỏ 2mm. Cụm hoa chùm ở ngọn dày đặc hoa, dài 15-20cm, rộng 2cm. Hoa xếp từng đôi; lá bắc hình dải nhọn màu trắng, dài 10-15mm, sớm rụng. Hoa màu hồng hay lam nhạt. Quả màu đen đen, bóng láng, có 3-5 đốt dài khoảng 5mm, rộng 2,5mm, hạt màu đen khi chín.
Bộ phận dùng: Rễ (Radix Urariae Pictae).
Phân bố sinh thái:Loài phân bố rộng ở Phi châu nhiệt đới, Ấn Độ, Nam Trung Quốc, Đông Dương, quần đảo Malaysia tới bắc úc Châu. Ở nước ta, thường gặp trong các đồi cỏ, trên bờ các sông, dọc đường đi, ở vĩ độ thấp, từ Hoà Bình cho tới Lâm Đồng, Đồng Nai.
Công dụng, cách dùng:Quả dùng chữa loét mồm của trẻ em (ở Punjab). Cây được xem như chống độc, dùng trị rắn cắn. Ở Trung Quốc, người ta sử dụng rễ cây xem như có tác dụng mát gan, yên tim, giúp tiêu hoá, giảm đau.