Showing posts with label Urticaceae. Show all posts
Showing posts with label Urticaceae. Show all posts

Friday, 7 November 2014

HAN VOI-Dendrocnide urentissima-Mán voi

HAN VOI


Tên khác: Mán voi.
Tên khoa học: Dendrocnide urentissima (Gagnep.) Chew; thuộc họ Gai (Urticaceae).
Tên đồng nghĩa: Laportea urentissima Gagnep.
Mô tả: Cây bụi hay gỗ nhỏ cao 2-6m. Lá mọc gần nhau, phiến hình tim, dài 20cm, chóp nhọn, mặt dưới tim tím; lá kèm hình tam giác nhọn, có lông trắng ở lưng. Cụm hoa ở nách lá, hình chuỳ, có nhánh mảnh ở cụm hoa đực và có nhánh khoẻ ở cụm hoa cái. Quả bế hình thấu kính, rộng 3mm, lổn nhổn những mụn ở trên bề mặt, đầu nhuỵ dạng sợi, dài 2-5mm, có gợn nhiều. Cây ra hoa vào tháng 10.
Bộ phận dùng: Rễ, cành lá (Radix et Ramulus Dendrocnides).
Phân bố sinh thái:Cây mọc trên các núi đá vôi từ Lạng Sơn, Hà Bắc cho tới Ninh Thuận (Cà Ná). Cây cũng gặp ở Campuchia.
Công dụng, cách dùng:Lông rất ngứa và nguy hiểm. Rễ dùng làm thuốc chữa ho, hen. Cành không lá nấu nước tắm đun sôi để nguội, không pha nước lã, dùng khăn khô nhúng vào nước và chậu, gáo khô để múc nước tắm, chữa lở loét, mẩn ngứa có hiệu quả.

Ghi chú: Nếu quệt phải lá Han voi thì lấy thân cây, cành cây giã nát vắt lấy nước mà bôi.

www.duoclieu.org

Tuesday, 4 November 2014

HAN LÌNH-Laportea violacea-Han tía

HAN LÌNH


Tên khác: Han tía.
Tên khoa học: Laportea violacea Gagnep.; Thuộc họ Gai (Urticaceae).
Mô tả: Cây thảo hay bụi nhỏ, cao 2-4m. Thân có nhiều nhánh nhẵn, có sẹo lá hình mắt chim sát nhau. Lá có phiến xoan tròn, dài 5-12cm, có lông ngứa ngắn, mép có răng to; cuống dài 4-9cm; lá kèm 2mm. Ngù hoa cùng gốc hay khác gốc, ở nách lá, có lông, dạng chuỳ 4-8 nhánh; cụm hoa đực dài 5cm; cụm hoa cái dài 15-20cm. Hoa đực có 5 lá đài, 5 nhị, nhuỵ cái lép; hoa cái có 4 lá đài. Quả bế hình trái xoan dẹp, có mụn trên bề mặt, vòi nhuỵ cong. Cây ra hoa vào mùa hè.
Bộ phận dùng: Rễ (Radix Laporteae Violaceae).
Phân bố sinh thái:Cây thường gặp trên núi đá vôi tại Lạng Sơn, Thanh Hóa.
Công dụng, cách dùng:Lông rất ngứa; nhưng rễ được dùng làm thuốc trừ giun, ỉa ra máu và làm dễ tiêu hoá.
www.duoclieu.org

Friday, 31 October 2014

GIÁ CO-Elatostema rupestre-cây thuốc chữa ho

GIÁ CO


Tên khoa học: Elatostema rupestre (Buch.-Ham. ex D.Don) Wedd.; thuộc họ Gai (Urticaceae).
Mô tả: Cây thảo sống nhiều năm cao 50-100cm, cành non có lông mịn. Lá không cân xứng, ít cong, mặt trên màu lục tươi, mặt dưới hơi nâu lúc khô, mép có răng nhỏ, gân phụ 4-5 cặp, rất lồi ở mặt dưới và có lông dày, cuống dài 3-4cm, lá kèm 2cm, có lông. Hoa khác gốc. Cụm hoa ở nách lá, không cuống, dạng xim co có lông cong; đế hoa dạng đầu; lá bắc và lá bắc con dạng mo, có lông. Hoa đực có 3 lá đài, 3 nhị. Hoa cái không có bao hoa, có 4 nhị lép, bầu hình trứng, có những núm lồi thành hàng. Cây ra hoa tháng 1-3.
Bộ phận dùng:Toàn cây (Herba Elatostemmae Rupestris).
Phân bố sinh thái:Cây mọc ở trên mùn đá vôi dọc theo suối ở nhiều nơi; Bắc Thái, Hoà Bình, Hà Bắc, Ninh Bình.
Tính vị, tác dụng:Cây có tác dụng thanh nhiệt làm mát gan, nhuận phế làm ngừng ho.
Công dụng, cách dùng:Lá nấu canh ăn được. Dân gian dùng toàn cây chữa rắn cắn và chữa chân tay co quắp. Ở Trung Quốc có nơi dùng chữa bệnh về gan và phổi.

Tuesday, 28 October 2014

GAI-Gai làm bánh, Gai tuyết-Boehmeria nivea-cây thuốc an thai

GAI

Tên khác: Gai làm bánh, Gai tuyết.
Tên khoa học: Boehmeria nivea (L.) Gaudich.; thuộc họ Gai (Urticaceae).
Mô tả: Cây nhỏ cao 1,5-2m; gốc hoá gỗ. Rễ dạng củ, hình trụ thường cong queo, màu vàng chứa nhiều nhựa gôm. Cành màu nâu nhạt, có lông. Lá lớn, mọc so le, hình trái xoan dài 5-16, rộng 9,5-14cm, mép khía răng, mặt trên xanh, mặt dưới trắng bạc phủ lông mềm và mịn; lá kèm hình dải nhọn, thường rụng, cuống lá màu đo đỏ. Hoa đơn tính cùng gốc. Quả bế mang đài tồn tại. Cây ra hoa tháng 5-8, quả tháng 8-11. 
Bộ phận dùng: Rễ củ (Radix Boehmeriae), thường gọi là Trư ma căn và lá (Folium Boehmeriae).
Phân bố sinh thái: Loài của Ấn Độ, Nam Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam, Lào, Malaixia, Úc châu. Ở nước ta, Gai mọc hoang và thường được trồng ở vùng trung du và đồng bằng để lấy sợi đan, dệt lưới, làm giấy in bạc rất bền, lấy lá làm bánh gai, lấy củ làm thuốc. Trồng bằng đoạn thân rễ và cũng có thể ươm hạt. Trồng sau một năm đã có thể lấy sợi. Nếu chăm sóc tốt, có thể thu hoạch trên 10 năm. Ta thường lấy rễ làm thuốc, có thể thu hái quanh năm, tốt nhất vào mùa hạ hay mùa thu. Ðào rễ, rửa sạch đất cát, bỏ rễ con, thái mỏng hoặc để nguyên, rồi phơi hay sấy khô; có khi dùng tươi. Lá có thể thu hái quanh năm.
Thành phần hoá học:Rễ Gai chứa acid chlorogenic, acid cafeic, acid quinic, rhoifolin 0,7%, apigenin, acid protocatechic.
Tính vị, tác dụng:Rễ gai có vị ngọt, tính hàn, không độc, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu, tiêu viêm, an thai, chỉ huyết. Acid chlorogenic trong rễ củ có tác dụng tăng cường hiệu lực của adrenalin làm thông tiểu tiện, kích thích sự bài tiết mật, nhưng lại có khả năng ức chế tác dụng của pepsin và trypsin; nó còn có tác dụng diệt nấm và chống vi trùng.
Công dụng, cách dùng:Thường dùng chữa 1. Cảm cúm, sốt, sởi bị sốt cao; 2. Nhiễm trùng tiết niệu, viêm thận phù thũng; 3. Ho ra máu, đái ra máu, trĩ chảy máu; 4. Rong kinh động thai đe doạ sẩy thai.
Liều dùng: Dùng rễ ngày10-30g dạng thuốc sắc. Dùng ngoài chữa đòn ngã tổn thương, đụng giập bầm máu, đinh nhọt. Lá dùng ngoài trị vết thương chảy máu, sâu bọ đốt và rắn cắn. Giã rễ và lá tươi, hoặc lấy cây khô tán bột để đắp ngoài. Còn phối hợp với rễ cây Vông vang đắp chữa trĩ và nhọt mụt.
Bài thuốc:
1. Rong kinh, động thai đe doạ sẩy thai, sa dạ con: Rễ Gai 30g sắc uống trong ba đến ngày.
2. Chữa các chứng lậu, đái buốt, đái dắt: Củ gai, Bông mã đề, mỗi vị 30g, Hành 3 nhánh, sắc uống.
3. Phụ nữ có thai, phù thũng, đái đục, tê thấp đau mỏi, ỉa chảy kém ăn: Rễ Gai, Tỷ giải, mỗi vị 25g sắc uống.
4. Ho ra máu, đái ra máu, phù thũng khi có mang: Rễ Gai, rễ Cỏ tranh mỗi vị 30g sắc uống.

Wednesday, 26 February 2014

ĐAY SUỐI

ĐAY SUỐI

Tên khác: Ðay suối, Me đỏ, Me sót, Gai Bắc bộ
Tên khoa học: Boehmeria tonkinensis Gagnep., thuộc họ Gai (Urticaceae).
Mô tả: Cây thảo cao 1m; cành non màu đỏ, có lông ngắn và sát. Lá mọc đối, thuôn, gốc tù, chóp nhọn ngắn, dài 5-10cm, rộng 2-9cm; răng thon như răng cua; gân gốc 3; cuống dài 8-20mm, có lông sát; lá kèm hình tam giác nhọn, dễ rụng. Cụm hoa ở nách lá, dạng bông, dài 7cm, gồm các xim co sít nhau. Xim co đực có 6-8 hoa ở nách một lá bắc hình tam giác, cụm hoa cái có 8-15 hoa. Ra hoa vào mùa hè đến mùa thu.
Bộ phận dùng: Ngọn và là non (Cacumen Ramuli et Folium Boehmeriae).
Phân bố và thu hái:Cây mọc ở ven suối, nơi có nhiều ánh sáng trong rừng các tỉnh từ Cao Bằng, Lạng Sơn, Ninh Bình, qua Quảng Trị tới Ðồng Nai.
Thành phần hoá học:Trong lá có nước 81%, protid 5,5%, glucid 3,3%, cellulose 6,4%, tro 3,8%, cacium 412 mg%, phosphor 34mg%, caroten 3-6mg% và vitamin C 50mg%.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Ngọn và lá non, thái nhỏ, vò ra nấu canh ăn được như rau Ðay.