Showing posts with label Euphorbiaceae. Show all posts
Showing posts with label Euphorbiaceae. Show all posts

Friday, 7 November 2014

HÁO DUYÊN TRỊ LÃI-Actephila anthelminthica-cây thuốc nam

HÁO DUYÊN TRỊ LÃI


Tên khác: Háo duyên trị lãi.
Tên khoa học: Actephila anthelminthica Gagnep.; thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).
Mô tả: Cây bụi cao 2-3m; thân to cỡ 3cm, nhánh không lông. Lá có phiến thon ngược hẹp, dài khoảng 15cm, rộng 2,5cm, đầu chót nhọn hay tù, gốc nhọn, gân phụ 8-15 cặp, mặt trên xám ôliu, mặt dưới nhạt, cuống 1cm. Hoa khác gốc; hoa đực có cuống ngắn, 4 cánh hoa, đĩa mật, 4 nhị; hoa cái có cuống dài 2-3cm, vòi nhuỵ 3, chẻ hai từ gốc. Quả nang to 1,4cm, trên cuống dài 2,5cm. Cây ra quả tháng 12.
Bộ phận dùng: Rễ (Radix Actephilae).
Phân bố sinh thái:Loài đặc hữu của nước ta, chỉ mới gặp ở Ninh Thuận; cây mọc hoang trong rừng thường xanh hay trên các đồi cây bụi.
Công dụng, cách dùng:Dân gian dùng rễ Háo duyên trị lãi sao lên sắc uống trị giun.

Monday, 3 November 2014

HAN DÂY-Cnesmone javanica-Bọ nẹt, Hồ ly Java

HAN DÂY


Tên khác: Bọ nẹt, Hồ ly Java.
Tên khoc học: Cnesmone javanica Blume; thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).
Mô tả: Dây leo quấn, có lông ngắn; nhánh có lông dài 20cm, có lông. Phiến lá bầu dục thon, gốc hình tim dài đến 15cm, mép có răng nhỏ, mặt dưới như nhung vàng, cuống 1-3cm, lá kèm nâu. Bông cao 10cm, ở nách lá, mang hoa cái ở gốc; nụ hoa đực tròn to 2mm, trên cuống cao 1,5mm, lá đài 3, nhị 3, bao phấn có mũi dài; hoa cái có 6 lá đài, bầu có lông nâu vàng, vòi nhuỵ 3, ngắn. Nang to 1cm. Cây ra hoa tháng 2-5.
Bộ phận dùng:Toàn dây (Herba Cnesmones).
Phân bố sinh thái:Cây mọc ở rừng và rừng tre từ vùng thấp đến độ cao 500m, từ Hoà Bình, Thanh Hoá qua Gia Lai đến đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Công dụng, cách dùng:Rễ, dây bỏ lá sắc uống chữa ho, hen. Dân gian dùng làm thuốc gây sẩy thai (Viện Dược liệu).
www.duoclieu.org

Friday, 31 October 2014

GIÂU GIA-Baccaurea ramiflora-cây thuốc chữa mụn nhọt, lở loét, dị ứng

GIÂU GIA


Tên khoa học: Baccaurea ramiflora Lour.; thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).
Tên đồng nghĩa: Baccaurea sapida (Roxb.) Müll.Arg.
Mô tả: Cây gỗ cao 10-15m. Các cành non mảnh, nhẵn. Lá thường nhóm họp ở cuối các cành đó. Lá dày, hình tròn dài, nhọn ở hai đầu, dài 10-20cm, rộng 3-9cm; lá kèm hơi có lông ở mặt lưng, sớm rụng. Hoa xếp thành chùm dài ở nách, trên các sẹo lá. Hoa đực có 4-5 lá đài, 6-10 nhị. Hoa cái có 5-6 lá đài và bầu hình cầu phủ lông tơ rất dày, có 2-4 ô, mỗi ô chứa 2 noãn. Quả mọng, nhẵn, có 3 ngăn, mỗi ngăn có 1 hạt, phía ngoài có cơm mọng. Cây ra hoa tháng 2-3 và quả chín tháng 6-8.
Bộ phận dùng:Lá, quả (Folium et Fructus Baccaureae Ramiflorae).
Phân bố sinh thái:Cây của vùng Ấn Độ, Malaysia mọc hoang ở rừng và cũng thường được trồng lấy quả ăn.
Công dụng, cách dùng:Quả chín ăn rất ngọt và ngon, kích thích tiêu hoá. Lá dùng chữa sưng tấy, mụn nhọt, lở loét, dị ứng. Thường dùng giã nát trộn giấm bôi.

Thursday, 30 October 2014

GIÁ-Excoecaria agallocha-cây thuốc duốc cá

GIÁ


Tên khoa học: Excoecaria agallocha L.; thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).
Mô tả: Cây nhỡ hay cây bụi có nhựa mủ trắng. Lá mọc so le, xoan, bầu dục, tù ở gốc, có mũi lồi ngắn, hơi lệch và tù, nguyên, dai, dài 5-8cm, rộng 2,5-4,5cm, bóng loáng ở mặt trên, mốc mốc ở mặt dưới, với hai tuyến ở gốc; cuống mảnh, dài 2cm. Hoa khác gốc, thành bông ở nách lá; các bông đực nhiều hoa, dài 2-8mm; các bông cái thưa, dài 10-15mm, có khi có hoa đực ở ngọn. Quả nang có cuống ngắn 2-3mm, hình cầu, có 3 cạnh; đường kính 1cm; hạt 3, hình cầu, 4mm, màu xám nhạt. Cây ra hoa tháng 6-12.
Bộ phận dùng:Toàn cây (Herba Excoecariae Agallochae).
Phân bố sinh thái:Loài của Á châu nhiệt đới, thường hay gặp ở các rừng ven biển, ven sông nước lợ, khắp nước ta.
Thành phần hoá học:Các bộ phận của cây đều chứa nhựa độc. Vỏ chứa tanin, từ 10-15% tuỳ nơi. Hạt chứa dầu.
Tính vị, tác dụng:Nhựa mủ rất độc, gây xổ, sẩy thai, có thể làm mù mắt. Vỏ gây nôn, xổ. Lá cũng có độc.
Công dụng, cách dùng:Người ta thường dùng nhựa mủ làm thuốc duốc cá, có khi cũng dùng lá làm thành bột thả xuống nước. Mủ có thể dùng chữa loét mạn tính. Có nơi dùng với nhựa Sui để tẩm tên độc. Lá cây có thể sắc uống chữa động kinh; giã tươi đắp trị các vết loét. Dịch lá nấu với dầu dùng xoa đắp trị thấp khớp, phong cùi và liệt. Rễ cây ít độc hơn các phần của cây trên mặt đất. Giã ra lẫn với Gừng, dùng làm thuốc chườm trị sưng chân tay. Hạt phơi nắng có thể chế dầu dùng trị ghẻ. Nói chung, chỉ nên sử dụng để trị bệnh ngoài da. Còn gỗ trắng, có quầng rõ, khi già đốt có mùi thơm trầm. Khói gỗ có thể dùng để trị bệnh phong cùi; nhưng cần lưu ý hơi đốt này rất nguy hiểm nếu ta đốt gỗ trong phòng ở. 

GHẺ-Bòn bọt-Glochidion obliquum-cây thuốc chữa ghẻ

GHẺ


Tên khác: Bòn bọt.
Tên khoa học: Glochidion obliquum (Willd.) Decne.; thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).
Mô tả: Cây gỗ nhỏ cao 7-11m, có nhánh dẹp, nhẵn, khi khô hoá đen. Lá dai, nhẵn, xoan ngọn giáo, nhọn, sắc không cân ở gốc, có mũi nhọn ngắn ở đầu, dài 9-15cm, rộng 35-55mm; cuống lá rất ngắn. Hoa xếp 6-7, thường đồng tính, thành bó ở nách lá. Quả nang hình cầu dẹt, có 6 cạnh lồi, cao 6mm, rộng 12mm, có cuống ngăn ngắn, có đài trên quả ít đồng trưởng. Cây ra quả tháng 12.
Bộ phận dùng: Lá (Folium Glochidionis).
Phân bố sinh thái:Cây mọc ở Bắc Việt Nam (Vĩnh Phú, Lạng Sơn) và ở Nam Việt Nam. Còn phân bố ở Campuchia, Ấn Độ, Malaysia, Indonesia.
Công dụng, cách dùng:Lá, vò ra ngâm vào nước dùng trị ghẻ.
www.duoclieu.org

Friday, 24 October 2014

DUỐI LEO-Duối dây-Trophis scandens-cây thuốc nam

DUỐI LEO


Tên khác: Duối dây.
Tên khoa học: Trophis scandens (Lour.) Hook. & Arn.; thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).
Tên đồng nghĩa: Malaisia scandens (Lour.) Planch.
Mô tả: Dây leo dài 8m hay hơn, có nhựa mủ trắng, với nhánh mảnh, có lỗ bì, với các nhánh con hơi có lông lún phún. Lá thuôn, tròn hay hình tim ở gốc, đột ngột thót lại thành mũi nhọn ngăn ngắn, dài 7-11cm, rộng 3-4cm, nhẵn khi trưởng thành, nguyên hay chỉ hơi có răng, với gân lông chim; cuống lá dài 5-10mm. Hoa đơn tính khác gốc, các hoa đực thành đuôi sóc xếp 1-2 cái ở nách; các hoa cái rất nhiều, xếp thành đầu xoan, có cuống, dài 6mm. Quả 1-3 trên một cụm hoa, dạng trứng, lồi, dài 8mm, có vỏ quả mỏng dễ vỡ.
Bộ phận dùng: Lá (Folium Trophitis Scandentis).
Phân bố sinh thái:Loài phân bố ở Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaixia, Indonesia, Philippin, Tân Calêđôni, Ustralia. Ở nước ta, cây mọc hoang và cũng được trồng ở Quảng Ninh, Hà Bắc, Vĩnh Phú, Hoà Bình, Hà Tây, Hà Nội, Thanh Hoá, Quảng Trị, Quảng Nam-Đà Nẵng. Ninh Thuận.
Công dụng, cách dùng:Quả chín ăn được. Nước sắc lá dùng uống để gây nôn khi ăn phải thức ăn độc, cũng dùng chữa hậu sản. Ở Malaysia, nước sắc lá dùng làm trà uống cho phụ nữ sinh đẻ.

Sunday, 2 March 2014

ĐỖ TRỌNG

ĐỖ TRỌNG

Tên khác: Đỗ trọng
Tên khoa học: Eucommia ulmoides Oliv, thuộc họ Đỗ trọng (Eucommiaceae).
Mô tả: Cây nhỡ hay cây to cao 10m hay hơn. Vỏ thân và lá có nhựa mủ trắng, vỏ màu xám, khi bẻ đôi sẽ thấy những sợi nhựa trắng mảnh như tơ nối giữa các mảnh vỏ. Lá mọc so le, hình trứng rộng, dài 6-8cm, rộng 3-7,5cm, màu lục bóng, mép khía răng. Lá cũng có gôm tựa gutta percha như ở vỏ. Hoa đơn tính khác gốc; hoa đực và hoa cái không có bao hoa; hoa đực mọc thành chùm; hoa cái tụ tập 5-10 cái ở nách lá. Quả hình thoi dẹt, màu nâu. Hoa tháng 3-5; quả tháng 7-9.
Bộ phận dùng: Vỏ cây (Cortex Eucommiae), thường gọi là Đỗ trọng
Phân bố và thu hái:Cây của Trung Quốc mọc hoang ở vùng lạnh và cũng được trồng nhiều. Ta nhập giống vào trồng năm 1958, đến năm 1960, việc trồng thử ở Sapa đạt kết quả tốt. Ta đã nhân giống và trồng ở một số nơi khác ở Vĩnh Phú. Lai Châu, Thanh Hoá, Gia Lai, Lâm Đồng thì nhận thấy cây sinh trưởng tốt ở vùng núi cao trên 1000m. Trồng 10 năm, cây chu vi 50-60cm mới thu hoạch được vỏ tốt. Có thể thu vỏ vào mùa xuân bằng cách bóc trừ lại 1/3 chu vi thân đảm bảo cho cây vẫn sinh trưởng bình thường, để sau vài năm lại tiếp tục thu hoạch. Vỏ bóc ra, đem ép phẳng, xếp thành đống, ủ 6-7 ngày đến khi mặt trong có màu đen. Phơi hay sấy khô. Cạo vỏ ngoài cho nhẵn bóng.
Thành phần hoá học:Vỏ cây chứa gutta-pereha, còn có pino-resinol-diglucosid, geniposid, acid geniposidic, ulmoprenol, acid chlorogenic, aucubin, loganin, chất màu, albumin chất béo, tinh dầu và muối vô cơ. Có tài liệu cho rằng thành phần chính là Eucommin (Olivil), genipin, acid hữu cơ, vitamin C.
Tính vị, tác dụng:Đỗ trọng có vị ngọt, hơi cay, tính ấm, có tác dụng bổ gan thận, mạnh gân xương, dưỡng huyết, ấm tử cung, an thai.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Vỏ Đỗ trọng dùng trị thận hư, đau lưng, chân gối yếu mỏi, phong thấp, sưng tê phù, cao huyết áp, di tinh, liệt dương, có thai đau bụng, động thai ra huyết, hay đi đái đêm, bại liệt. Ngày dùng 12-20g, dạng thuốc sắc, cao lỏng rượu thuốc hoặc hoàn tán. Khi dùng có thể tẩm muối sao.
Bài thuốc:
Hải thượng Lãn Ôngđã sử dụng một số đơn thuốc có Đỗ trọng.
1. Chữa đau vùng thắt lưng: Đỗ trọng, hạt Quít mỗi vị đều 80g, sao, tán nhỏ uống dần với thang nước muối và rượu. Hoặc dùng Tỳ giải, Địa cốt bì sắc cách thuỷ với rượu, uống thường ngày.
2. Chữa ra mồ hôi trộm:Đỗ trọng, Mẫu lệ đều bằng nhau tán nhỏ, uống với rượu, mỗi lần một thìa.
3. Chữa các chứng trẻ em thuộc hư hàn và bẩm sinh ốm yếu, kinh giản, hen suyễn, lỵ mạn tính, mất tiếng, cam tích, bị trướng, còi xương, chậm nói, chậm đi: Đỗ trọng 4g, Thục địa 4g, Sơn dược 4g, Sơn thù 4g, Phục linh 4g, Ngưu tất 4g, Mẫu đơn 3g, Ngũ vị 2g, Trạch tả 3g, Phụ tử chế 1,2g, Nhục quế 0,8g, sắc uống.
Lương y Lê Trần Đứcgiới thiệu vài bài thuốc:
1. Chữa phụ nữ sẩy thai quen lệ (uống dự phòng khi thai được 2-3 tháng): Đỗ trọng, Cẩu tích, Ba kích, Thục địa, Vú bò, Củ gai, Dương quy, Tục đoạn, Ý dĩ sao, mỗi vị đều 10g, sắc uống.
2. Chữa thận yếu, đau lưng, mỏi gối, liệt dương: Đỗ trọng, Ngưu tất, Tục đoạn, Đương quy, Thục địa, Ba kích, Cẩu tích, Cốt toái bổ, Mạch môn, Hoài sơn, mỗi vị đều 12g, sắc uống hoặc tán bột làm viên với mật ong, mỗi ngày dùng 15-20g, chia làm 2 lần. Hoặc dùng Đỗ trọng 16g, Tỳ giải 16g, Cẩu tích 20g, Dây đau xương 12g, rễ Gốc hạc 12g, Thỏ ty từ 12g, rễ Cỏ xước 12g, Cốt toái bổ 16g, Củ mài 25g, Sắc uống.

Saturday, 1 March 2014

ĐƠN MẶT TRỜI

ĐƠN MẶT TRỜI

Tên khác: Đơn mặt trời, Đơn lá đỏ, Liễu đỏ
Tên khoa học: Excoecaria cochinensis Lour, thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).
Mô tả: Cây nhỏ, cao chừng 1 mét. Lá mọc đối, hình bầu dục ngược thuôn, mặt trên màu lục bóng, mặt dưới màu tía, mép có răng cưa. Hoa mọc thành bông ở nách lá hay ở ngọn, cùng gốc hoặc khác gốc. Quả nang 3 mảnh. Hạt hình cầu, màu nâu nhạt. Cây ra hoa vào mùa hè.
Bộ phận dùng: Lá (Folium Excoecariae Cochinchinensis)
Phân bố và thu hái:Cây đặc hữu của Đông Đông Dương, mọc hoang và cũng thường được trồng ở nhiều nơi làm cây cảnh và lấy lá làm thuốc. Cành lá có thể thu hái quanh năm, phơi khô.
Tính vị, tác dụng:Đơn mặt trời có vị đắng ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, khư phong trừ thấp, lợi tiểu, giảm đau.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường dùng chữa mẩn ngứa, mụn nhọt, đi lỵ, đái ra máu, đại tiện ra máu, ỉa lỏng lâu ngày. Ở Thái Lan, lá còn được dùng làm thuốc trợ đẻ.
Bài thuốc:
1. Chữa mẩn ngứa, mụn nhọt: Dùng 20-30g cành lá Đơn mặt trời, dạng thuốc sắc: Dùng riêng hay phối hợp với lá Thài lài tía, Bầu đất tía, Đậu ván tía.
2. Chữa đi ỉa lỏng lâu ngày: Dùng 15 g lá khô sao vàng, thêm một miếng gừng nướng, sắc với 3 bát nước, còn 1 bát, chia 3 lần uống trong ngày.

3. Chữa đại tiện ra máu và trẻ em đi lỵ: lá Đơn mặt trời 1 nắm sắc uống.

ĐƠN LƯỠI HỔ

ĐƠN LƯỠI HỔ

Tên khác: Đơn lưỡi hổ, Lưỡi cọp, Lưỡi hùm
Tên khoa học: Sauropus rostratus Miq (S. chingiana S. Y Hu), thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).
Mô tả: Cây bụi nhỏ, cao 10-40cm, thân tròn, cứng. Lá hình mác, chóp tròn, mặt trên có những viền ngang màu xám trắng, nom như lưỡi hổ. Hoa nhỏ, màu đỏ, mọc tụ họp từng khóm ở thân cây. Mùa hoa quả tháng 4-11.
Bộ phận dùng: Lá và hoa (Folium et Flos Sauropi Rostrati).
Phân bố và thu hái:Cây của phân vùng Ấn Độ - Malaixia, mọc hoang ở vùng rừng núi. Cũng được trồng làm cảnh do có vân đẹp và xanh tươi quanh năm. Thu hái lá và hoa quanh năm. Rửa sạch, dùng tươi hay phơi khô.
Tính vị, tác dụng:Đơn lưỡi hổ có vị ngọt, tính bình. Lá nhuận phế, chống ho. Hoa cầm máu.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường dùng trị 1. Ho khan; 2. Viêm phần trên đường hô hấp cấp tính, viêm khí quản, hen phế quản; 3. Ho ra máu. Lá còn được dùng trị cam sũng (trẻ em bị phù nề, thũng trướng), dị ứng mày đay. Dùng lá 10-15g, hoa 10-15g dạng thuốc sắc.
Bài thuốc:
1. Ho khan: dùng Đơn lưỡi hổ 15g, nấu súp với thịt lợn mà ăn. Hoặc dùng 7-8 lá đun sôi với 4 quả Chà là lấy nước uống.
2. Viêm đường hô hấp, viêm phế quản cấp, hen phế quản: Dùng Đơn lưỡi hổ 15g, sắc nước uống.
3. Ho ra máu:dùng hoa Đơn lưỡi hổ 10-15g hãm với nước đun sôi uống; hoặc nấu với thịt lợn nạc mà ăn.

ĐOM ĐÓM

ĐOM ĐÓM

Tên khác: Đom đóm, Đồng châu
Tên khoa học: Alchornea tiliaefolia (Benth.) Muell- Arg, thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).
Mô tả: Cây nhỏ cao 5-12m, nhánh non có lông ngắn. Lá có phiến xoan rộng, dài 15-18cm, chót nhọn, gốc có 2 tuyến và 2 lá kèm phụ; gân từ gốc 3; mép có răng thấp; cuống dài 5-10cm; lá kèm 7mm. Bong ở nách lá mang các xim co, cao 10-13cm; hoa đỏ; lá đài cao 4mm; nhị 8, bầu có lông, vòi nhuỵ 3, nguyên. Quả nang to 1 cm, có mụn như da cóc; có lông ngắn; hạt dài 8mm. Quả tháng 7.
Bộ phận dùng: Lá (Folium Alchorneae Tiliaefoliae).
Phân bố và thu hái:Cây mọc phổ biến ở ven đồi, rìa rừng luôn luôn xanh, rừng tre... gặp nhiều ở các tỉnh Trung du Bắc bộ và Trung bô của nước ta, từ Lạng Sơn, Hoà Bình, Bắc Thái, Hà Bắc, Quảng Ninh, Ninh Bình cho tới Đắc Lắc, Lâm Đồng.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Lá cũng dùng cầm máu như lá cây Vông đỏ. Cây dùng làm thuốc chữa phù, dùng cho phụ nữ uống trong thời gian có mang. Cũng dùng chữa sởi và trị mụn nhọt sưng lở.

Friday, 28 February 2014

ĐEN

ĐEN

Tên khác: Đen
Tên khoa học: Cleidiocarpon cavaleriei (Levl.) Airy-Shaw, thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).
Mô tả: Cây gỗ lớn cao 15-30m. Thân to đến 1m; nhánh có lông hình sao. Lá mọc so le, phiến thon, đầu nhọn, dài 15cm, rộng 3-4cm; không lông, gân phụ 9-12 đôi; cuống lá có 2 tuyến ở đầu; lá kèm 3-4mm. Cụm hoa chuỳ ở ngọn và ở nách lá; hoa đơn tính cùng gốc; hoa đực ở trên, nhỏ; đài xẻ sâu 3-5 thuỳ; nhị 3-5; hoa cái ở dưới, có bầu 2 ô, thường chỉ có 1 ô phát triển với một noãn lớn. Quả hạch dài 3-4cm, rộng 1,5cm; vỏ ngoài mỏng, phủ đầy lông nhung hình sao, màu vàng xám, có đài tồn tại, vỏ quả trong mềm, giòn; hạt hình cầu, màu nâu xám. Hoa tháng 3-4; quả tháng 8-9.
Bộ phận dùng: Hạt và dầu hạt (Semen et Oleum Cleidiocarpi).
Phân bố và thu hái:cây của Bắc Việt Nam, Trung Quốc và Bắc Mianma. Ởnước ta, Đen mọc tự nhiên ở rừng thường xanh vào khoảng 700m ở Sơn La, Lào Cia, Yên Bái, Vĩnh phú, Hà Giang, Tuyên Quang và cũng được trồng từ rất lâu đời. Thường mọc ở chân núi đất sâu, dày, ẩm và thoát nước. Cây ưa sáng, đâm chồi khoẻ, tăng trưởng tương đối nhanh. Hàng năm mỗi cây cho 10-15kg quả.
Thành phần hoá học:Hạt chứa nhiều dầu, hàm lượng 21-30%.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Gỗ xấu, dễ bị mối mọt nên ít được sử dụng. Hạt luộc ăn được hay ép lấy dầu dùng ăn thay mỡ có tính bổ dưỡng.
Ghi chú: Còn loài Đen lá rộng - Cleidiocarpon laurinum Airy-Shaw, cũng mọc ở Lào Cai, Yên Bái, có lá, vỏ dùng nhuộm đen, hạt dùng ăn hay ép dầu dùng trong công nghiệp.

Friday, 14 February 2014

DẦU MÈ TÍA

DẦU MÈ TÍA

Tên khác: Dầu mè tía, Dầu lai vải
Tên khoa học: Jatropha gossypiifolia L., thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).
Mô tả: Cây nhỡ cao 1-2m, có mủ trong. Lá hình tim dài ở gốc, dạng tròn, đường kính 12-15cm, chia thuỳ ở nửa dưới với 5 thuỳ có mũi nhọn ngắn, hơi có lông tuyến ở mép, cuống lá cũng dài bằng phiến; cuống lá và gân lá màu đỏ. Hoa xếp thành chuỳ ở ngọn. Hoa có 5 lá đài, 5 cành hoa màu đỏ cao cỡ 5mm, 3 vòi nhuỵ có nuốm hình móng ngựa. Quả nang, dài 1-1,2cm, cụt hai đầu, có 3 rãnh, hầu như nhẵn. Hạt màu xám hung, viền đen, có mồng.
Bộ phận dùng:Lá, hạt, vỏ (Folium, Semen et Cortex Jatrophae Gossypiifoliae).
Phân bố và thu hái:Gốc ở Trung Mỹ (Braxin) được nhập trồng và cũng gặp ở trạng thái hoang dại; thường thấy dọc đường đi. Có thể thu hái lá và hạt quanh năm.
Thành phần hoá học:Lá chứa một saponin, một chất nhựa và tanin. Nhựa mủ của thân chứa một chất dầu bay hơi.
Tính vị, tác dụng:Lá và hạt gây xổ. Nhựa mủ thân có tính chất làm phân huỷ.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Hạt có dầu dùng xổ và gây nôn như hạt Dầu mè; người lớn dùng mỗi lần 20 hạt đem rang lên làm thuốc xổ. Dầu hạt cũng dùng để trị phong cùi và cũng dùng để thắp sáng. Nhựa cây bôi chữa rắn cắn. Lá sắc uống chữa ho khan, mỗi lần dùng 7-12 lá. Người ta còn dùng lá Dầu mè tía, lá Vạn niên thanh và củ Ngô đồng nấu thành cao đặc làm thuốc dán.
Ở Ấn Độ, lá dùng đắp nhọt đầu đinh, mụn nhọt, eczema và ghẻ ngứa. Nước sắc vỏ cây dùng điều kinh. Hạt gây điên dại và cũng có tác dụng gây nôn.


DẦU MÈ

DẦU MÈ

Tên khác: Dầu mè, Dầu lai, Đậu cọc rào, Ba đậu nam
Tên khoa học: Jatropha curcas L., thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).
Mô tả: Cây nhỡ, cao 2-5m, có nhựa trong suốt. Cành mập, nhẵn, có nhiều vết sẹo do lá rụng để lại. Vỏ màu đồng thau lục nhạt tách thành vẩy mỏng. Lá moc so le, chia 3-5 thuỳ nông; gân lá hình chân vịt. Hoa đực và hoa cái riêng biệt. Cụm hoa hình chuỳ dạng ngù mọc ở đầu cành hay nách lá. Quả nang hình trứng, có cuống dài, lúc non màu xanh, khi chín màu vàng, có 3 thuỳ dạng góc, chứa 3 hạt. Cây ra hoa tháng 5-8.
Bộ phận dùng: Lá và dầu hạt (Folium et Oleum Jatrophae).
Phân bố và thu hái:Gốc ở Mỹ châu nhiệt đới, được trồng khắp nơi để làm hàng rào. Trồng bằng cành, cây mọc rất nhanh. Lá có thể thu hái quanh năm, thường dùng tươi. Hạt ép lấy dầu dùng trong công nghiệp và làm thuốc.
Thành phần hoá học:Hạt chứa chất độc Curcin. Nhân hạt chứa dầu béo, 2 phytosterol, 1 phytosterolin (glucosid của phytosterol), một lượng cao sucrose và chất nhựa gây nôn, xổ và gây đau bụng. Hạt ép ra dầu với tỉ lệ 25%, dầu này có mùi khó chịu và gây xổ nhiều hơn dầu Thầu dầu.
Tính vị, tác dụng:Lá có vị đắng và se, tính mát, có độc; có tác dụng làm tan máu ứ, tiêu sưng, cầm máu, chống ngứa. Dầu hạt gây nôn và tẩy mạnh, giải độc, sát trùng. Nhựa mủ cũng có tác dụng như dầu. Cây có độc đối với cá.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Lá thường được dùng trị 1. Chấn thương bầm giập, vết thương chảy máu, bong gân; 2. Mẩn ngứa, eczema, vẩy nến; 3. Phong hủi; 4. Nhiễm trùng trichomonas ở âm đạo; 5. Loét mạn tính. Ở Ấn Độ, người ta dùng lá sắc uống và làm thuốc đắp vào vú gây tiết sữa và làm sung huyết. Dầu hạt dùng chữa táo bón và bôi trị ghẻ lở, mụn nhọt, rò, bệnh về tóc. Nhựa mủ dùng bôi trị ghẻ eczema, nấm tóc, các vết loét và dùng đánh lưỡi cho người ốm. Cũng dùng để chữa vết thương. Dùng lá giã đắp hoặc chiết dầu từ hạt để xoa, rịt bên ngoài.
Bài  thuốc:
1. Loét mạn tính:Dùng dầu hạt lẫn với vaselin làm pomat bôi.
2. Mẩn ngứa, eczema:Dùng lá Dầu mè tươi, giã nát và rịt.
Ghi chú: Hạt rất độc, dễ gây ngộ độc nguy hiểm; khi dùng phải thận trọng.

DẦU LAI CÓ CỦ

DẦU LAI CÓ CỦ

Tên khác: Dầu lai có củ, Sen lục bình, Ngô đồng
Tên khoa học: Jatropha podagrica Hook., thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).
Mô tả: Cây nhỏ cao 30-100cm, gốc phình to thành củ. Lá hình lọng, có 5 khía; lá kèm chia thành những phiến hẹp như kim. Chuỳ hoa hình ngù, đỏ. Hoa có 5 cánh hoa dài 7-8mm. Quả nang có đường kính 1,5cm.
Bộ phận dùng:Lá, vỏ thân (Folium et Cortex Jatrophae).
Phân bố và thu hái:Loài cây của Nam Mỹ, được trồng làm cảnh, nay trở thành liên nhiệt đới. Thu hái lá, thân quanh năm, thường dùng tươi.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Vỏ dùng làm thuốc tẩy, trị táo bón, gây nôn, lợi sữa. Lá dùng trị ghẻ lở. Trong dân gian, người ta dùng cuống lá dầm nát, đặt rịt chữa sa tử cung và dùng cuống lá, thân cây giã ra, chế nước sôi uống trị ho xuất huyết, lạc huyết.

Friday, 4 October 2013

CÙ ĐÈN Thorel-cây thuốc nam chữa đau bụng kinh

CÙ ĐÈN Thorel


Tên khoa học: Croton thorelii Gagnep.; thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).
Mô tả: Cây bụi cao 1-3m. Nhánh non có lông hình khiên, khi già không lông. Lá không lông, gốc hẹp hình tim, có 2 tuyến ở mặt dưới; mép có răng đều; cuống ngắn. Cụm hoa ngắn 6-8cm; hoa đực có 12 nhị; hoa cái có 12 núm nhuỵ. Quả nang 7mm; hạt 4mm. Cây ra hoa tháng Giêng.
Bộ phận dùng: Rễ, lá (Radix et Folium Crotonis Thorelii).
Phân bố sinh thái:Cây đặc hữu của vùng Nam Đông Dương, mọc hoang trong các rừng thưa.
Công dụng: Lá xát trị ghẻ và diệt côn trùng. Rễ dùng trị đau bụng kinh.

CÙ ĐÈN RĂNG CƯA-Croton poilanei-cây thuốc nam chữa dị ứng

CÙ ĐÈN RĂNG CƯA


Tên khác: Ba đậu răng cưa, Ba đậu mập, Cù đèn poilane.
Tên khoa học:Croton poilanei Gagnep.; thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).
Mô tả: Cây gỗ nhỏ cao 4-8m, có vỏ xám, các nhánh khoẻ, hình góc nhiều hay ít, phủ lông hình khiên màu hung. Lá mọc so le, các lá trên thành vòng giả 3-4 lá, thuôn bầu dục, tù ở chóp, tròn hoặc hơi có tai ở gốc, có răng tai bèo thô với một mặt mũi nhọn hình nón ở các góc răng, nhẵn cả hai mặt, dài 10-40cm, rộng 3-15cm. Tuyến gốc lồi lên về mỗi phía của gân chính. Cụm hoa ở ngọn khoẻ, rất nhiều hoa, thưa hơn ở phần hoa cái hay hoa đơn tính, phủ lông hình khiên, dài 20-25cm, Hoa đực có 10-11 nhị; hoa cái có 3 vòi chẻ đôi. Quả nang. Mùa hoa tháng 3-7, mùa quả chín tháng 9-10.
Bộ phận dùng: Vỏ cây và lá (Cortex et Folium Crotonis Poilanei).
Phân bố sinh thái:Cây đặc hữu của vùng Đông, Đông Dương, mọc thông thường trên đất khô rừng thường xanh.
Công dụng: Vỏ cây được dùng trị các bệnh về mắt. Cũng dùng sắc uống trị đau bụng. Lá dùng làm thuốc chữa dị ứng.

CÙ ĐÈN LÔNG CỨNG-Croton glandulosus-cây thuốc nam chữa dị ứng mẩn ngứa

CÙ ĐÈN LÔNG CỨNG


Tên khác: Ba đậu tuyến.
Tên khoa học: Croton glandulosus L. (C. hirtus L’. Hérit.); thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).
Tên đồng nghĩa: Croton glandulosus var. hirtus Muell.-Arg.; C. hirtus L'Hér.
Mô tả: Cây cao 20-40cm, mang nhiều lông cứng, đứng, nhám. Lá hình tam giác, có lông, mép có răng cưa, thô. Cuống lá có hai tuyến có cuống; phiến lá có 3-5 gân ở gốc. Chùm hoa đứng cao 2-3cm, đài có tuyến; cánh hoa nhỏ, trắng; nhị 10; bầu có lông hình sao. Cây ra hoa quả vào mùa hè thu.
Bộ phận dùng:Toàn cây (Herba Crotonis Glandulosi).
Phân bố sinh thái:Cây mọc trên đất hoang, dọc đường đi nhiều nơi ở Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh. Tây Ninh, An Giang.

Công dụng: Chỉ mới được dùng trong phạm vi dân gian làm thuốc sắc uống chữa dị ứng, mẩn ngứa.

CÙ ĐÈN LÔNG-Croton crassifolius-cây thuốc nam chữa loét dạ dày hành tá tràng

CÙ ĐÈN LÔNG


Tên khác: Ba vỏ.
Tên khoa học: Croton crassifolius Geiseler; thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).
Mô tả: Cây bụi cao khoảng 50cm. Thân và nhánh nhiều, lúc non mịn, có lông dày hình sao. Lá hình bầu dục, hơi nhọn hay hình trái xoan, dài 4-20cm, rộng 2-4cm, có nhiều lông hình sao ở mặt trên, có lông hình sao mềm dày ở mặt dưới; mép lá nguyên hoặc hơi khía răng cưa; gân gốc 3, gân giữa với 4-5 đôi gân bên; cuống lá dài bằng nửa phiến lá, có 2 tuyến ở đầu cuống. Bông dài 5-10cm, có lông hình sao. Hoa đực có khoảng 20 nhị, hoa cái có bản dầy lông, 3 vòi nhuỵ, chẻ đôi hai lần thành 12 đầu nhuỵ. Quả nang hình cầu to cỡ 1cm. Cây ra hoa hầu như quanh năm.
Bộ phận dùng: Rễ (Radix Crotonis Crassifolii).
Phân bố sinh thái:Cây của miền Đông Dương, mọc hoang ở đất khô, vùng đồi núi.
Thu hái: Có thể thu hái rễ quanh năm, rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô.
Tính vị, tác dụng:Rễ có vị đắng và cay, mùi thơm, tính ấm; có tác dụng hành khí giảm đau, dãn gân cốt, hoạt kinh lạc, tiêu sưng.
Công dụng: Thường dùng chữa: 1. Viêm loét dạ dày, tá tràng; rối loạn chức năng dạ dày - ruột, bụng đầy hơi, trướng khí, lỵ; 2. Viêm gan mạn tính, hoàng đản; 3. Đau lưng mỏi gối, phong thấp nhức xương, đòn ngã bị thương; 4. Đau thoát vị, đau bụng kinh.
Liều dùng, cách dùng:Ngày dùng 9-12g, sắc uống hoặc xay thành bột và uống mỗi lần 2,5-3g với nước. Bột này còn dùng cầm máu vết thương và chữa mụn nhọt, lở loét. Rễ được dùng ngoài trị rắn cắn.
Bài thuốc: Chữa viêm loét dạ dày, hành tá tràng: dùng Cù đèn lông 60g, Hoàng lực (rễ) và Nguyệt quý, mỗi vị 30g, xương động vật 130g, Cam thảo 60g, tán thành bột, mỗi lần dùng 3g, ngày 3 lần.

CÙ ĐÈN LÁ BẠC-Croton cascarilloides-cây thuốc nam chữa nhức mỏi tê bại

CÙ ĐÈN LÁ BẠC


Tên khác: Cù đèn Cuming, Khai đen, Cù đèn lá nhót, Cù đen hoa răm, Bạc thau rừng.
Tên khoa học: Croton cascarilloides Raeusch.; thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).
Tên đồng nghĩa: Croton punctatus Lour.; C. cumingii Muell.-Arg.; C. pierrei Gagnep.
Mô tả: Cây nhỡ cao 0,40m; các nhánh non phủ lông hình khiên, nhưng rồi hoá nhẵn, có màu đen đen. Lá hình mũi mác, hình dải hay trái xoan, thon và tù ở gốc, nhọn lại ở đầu; mặt trên lúc non có lông hình sao thưa thớt rồi nhẵn, mặt dưới có lông hình khiên và trắng bạc hoặc điểm những chấm màu đỏ hoe, dài 8-12cm, rộng 15-45cm; gân hình lông chim. Hoa xếp thành bông ở ngọn, thường từng đôi, dài 1-4cm; hoa đực ở phía ngọn, hoa cái ở phía gốc, phủ lông hình khiên đỏ hoe hay trắng bạc. Quả nang hình cầu, có 3 cạnh, với 3 u bướu ở đỉnh, màu trắng bạc hay đỏ hoe. Hạt hình bầu dục hơi dẹt, dài 4mm, có mũi nhọn ở đỉnh.
Bộ phận dùng: Rễ, gỗ cây (Radix et Lignum Crotonis).
Phân bố sinh thái:Cây của vùng Đông Dương và Malaysia, mọc hoang trong rừng thứ sinh, rừng rậm vùng núi. Cũng được trồng.
Thu hái: Có thể thu hái rễ cây và gỗ quanh năm.
Công dụng: Dân gian sử dụng làm thuốc bổ máu, chữa nhức mỏi tê bại và cảm sốt. Cũng dùng tương tự như cây Cù đèn.

CÙ ĐÈN HỘ SẢN-Croton maieuticus-cây thuốc nam nấu nước tắm cho phụ nữ mới sinh

CÙ ĐÈN HỘ SẢN


Tên khác: A luân cung.
Tên khoa học: Croton maieuticus Gagnep.; thuộc học Thầu dầu (Euphorbiaceae).
Mô tả: Cây gỗ cao tới 6m, có nhánh to, màu trắng bạc, nhạt, do lông hình sao. Lá khá thưa, nguyên, dạng màng, xoan nhọn, có lông hình sao ở mặt trên, mặt dưới bạc do lông hình khiên, dài 15-20cm, rộng 8-14cm. Hoa thành bông ở ngọn, dài 8-13cm, nhiều hoa đực tập trung ở ngọn, còn ít hoa cái ở gốc. Quả nang to 5mm; hạt 3mm.
Bộ phận dùng: Lá (Folium Crotonis Maieutici).
Phân bố sinh thái:Cây mọc ở rừng từ Quảng Trị tới Kon Tum và Tây Ninh.
Công dụng: Lá dùng nấu nước tắm, rửa cho đàn bà mới sinh đẻ.